Thỏa thuận nhận tội là gì?
Thỏa thuận nhận tội (plea bargain) còn được biết đến với các cách hiểu khác nhau như Mặc cả thú tội, Thương lượng nhận tội hay Đàm phán thú tội, là một chế định pháp luật khá phổ biến tại các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common Law) với phương thức tố tụng tranh luận như Mỹ, Canada, Anh, Úc....
Theo đó, thỏa thuận nhận tội là một hình thức thỏa thuận thương lượng nhận tội trong tố tụng hình sự. Trong thỏa thuận này, bị cáo đồng ý nhận tội hoặc không phản đối cáo buộc để đổi lấy một kết quả có lợi hơn cho mình, như được giảm nhẹ khung hình phạt, giảm mức án hoặc được xét xử theo một tội danh nhẹ hơn so với tội danh ban đầu. Quá trình này thường do luật sư bào chữa phối hợp với công tố viên thực hiện.
Thỏa thuận nhận tội diễn ra khi quá trình điều tra đã hoàn tất, có kết luận điều tra và bản cáo trạng được ban hành, tức là ở giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận, vụ án sẽ tiếp tục được xét xử theo trình tự thông thường.
Có thể phân loại thỏa thuận nhận tội thành 03 dạng như sau:
(1) Loại 1: Bị can đồng ý nhận tội để được giảm nhẹ tội danh
(2) Loại 2: Nhận tội để đổi lấy bản án nhẹ hơn hoặc án thay thế
(3) Loại 3: Khi bị can bị buộc nhiều tội, nếu đồng ý nhận tội thì có thể thỏa thuận nhận ít tội danh hơn.
Thông tin "Thỏa thuận nhận tội là gì?" nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo.

Thỏa thuận nhận tội là gì? Việt Nam có thỏa thuận nhận tội không? Phân loại tội phạm như thế nào? (Hình từ Internet)
Việt Nam có thỏa thuận nhận tội không?
Tại Việt Nam, thỏa thuận nhận tội chưa được luật hóa thành một quy định pháp luật riêng biệt trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam đã có một số cơ chế tương tự, phản ánh yếu tố khoan hồng đối với người phạm tội có thái độ hợp tác, tự nguyện khai báo hoặc ăn năn hối cải.
Cụ thể, theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định khi người phạm tội tự thú hoặc thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc có hành vi hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa tạo ra một cơ chế “thương lượng” hay “thỏa thuận” chính thức giữa bị can/bị cáo và cơ quan tiến hành tố tụng. Việc bị cáo tự nguyện khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội chủ yếu được coi là căn cứ để Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt, chứ không phải là một “thỏa thuận” có tính hai chiều như trong mô hình thỏa thuận nhận tội ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật.
Thông tin "Việt Nam có thỏa thuận nhận tội không?" nêu trên chỉ mang tính chất tham khảo.
Lưu ý:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
(Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015)
Phân loại tội phạm như thế nào theo quy định pháp luật?
Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) về phân loại tội phạm như sau:
(1) Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
(2) Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại mục (1) nêu trên và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự 2015.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];