Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào? Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có phải cấp dưỡng cho con không?

Trịnh Kim Quốc Dũng 553 lượt xem
21:51 | 10/07/2025
Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào? Sau khi ly hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có phải cấp dưỡng cho con không? Sau khi đã ly hôn cha mẹ có được giành quyền nuôi con hay không?
Nội dung chính
  1. Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào?
  2. Sau khi đã ly hôn cha mẹ có được giành quyền nuôi con hay không?
  3. Sau khi ly hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có phải cấp dưỡng cho con không?

Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào?

Hiện nay theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không có quy định về mẫu đơn khởi kiện giành quyền nuôi con sau khi ly hôn.

Tuy nhiên, có thể tham khảo qua mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn dưới đây:

Mẫu đơn khởi kiện giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào? Hướng dẫn cách điền mẫu đơn khởi kiện giành quyền nuôi con?

Tải về Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn tại đây. Tải về

Mẫu đơn khởi kiện giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào? Hướng dẫn cách điền mẫu đơn khởi kiện giành quyền nuôi con?

Mẫu đơn yêu cầu giành quyền nuôi con sau khi ly hôn là mẫu nào? Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có phải cấp dưỡng cho con không? (Hình từ Internet)

Sau khi đã ly hôn cha mẹ có được giành quyền nuôi con hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định cụ thể về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

- Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

- Đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định thì:

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ khi cha mẹ đã thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; hoặc người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu con dưới 07 tuổi, trường hợp con từ đủ 07 tuổi trở lên thì Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con.

Như vậy, việc nuôi con sau khi ly hôn do cha mẹ thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì sẽ do Tòa án Tòa án quyết định căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì còn phụ thuộc vào nguyện vọng của con được ở với ai, trường hợp con dưới 36 tháng tuổi thì được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.

Do đó, cha mẹ không được giành quyền nuôi con sau sau khi đã ly hôn, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chỉ được Tòa án xem xét giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Sau khi ly hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có phải cấp dưỡng cho con không?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
...

Như vậy, trường hợp sau khi ly hôn mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Do đó, cha hoặc mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, cụ thể như sau:

(1) Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.

(2) Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

(3) Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.

(4) Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

(Nội dung được quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP)

Logo Thư viện Pháp luật
Trịnh Kim Quốc Dũng Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thủ tục Tố tụng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Phân cấp công trình đối với công trình hồ chứa quặng đuôi như thế nào? Về năng lực của cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm, chủ trì như nào?

Công ty có phát sinh thực hiện thi công hồ chứa thải quặng đuôi, gồm phần đập và lòng hồ, công ty áp dụng tiêu chí của công trình thủy lợi để xác định cấp công trình của hồ chứa quặng đuôi được hay không? Người chủ trì, chủ nhiệm thiết kế có bắt buộc phải có chuyên môn về thủy lợi hay không?

Pháp luật
Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng chứng khoán hiện có và hủy bỏ giao dịch có bị xử phạt hành chính không?

Hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán đặt nhầm bán số lượng lớn hơn số lượng chứng khoán thực có. Sau khi phát hiện sai sót đã đề nghị Trung tâm lưu ký huỷ bỏ giao dịch đặt lệnh bán, đã được chấp nhận. Hành vi đặt nhầm bán số lượng trên có bị coi là hành vi bán khống chứng khoán, bị xử phạt hành chính hay không?