Lực lượng rộng rãi trong phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp hiện nay do ai tham gia?
Theo quy định hiện hành, lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp bao gồm 02 nhóm lực lượng chính như sau:
- Lực lượng nòng cốt;
- Lực lượng rộng rãi.
Trong đó: Lực lượng rộng rãi là lực lượng do toàn dân tham gia thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp.
Cơ sở pháp lý tại khoản 3 Điều 28 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 có quy định về lực lượng rộng rãi trong phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp chi tiết như sau:
Lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp
1. Lực lượng thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp bao gồm:
a) Lực lượng nòng cốt;
b) Lực lượng rộng rãi.
2. Lực lượng nòng cốt gồm lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; lực lượng của các Bộ, ngành và địa phương.
Đội ứng phó khẩn cấp, Đội công tác tuyên truyền đặc biệt, Đội tuần tra đặc biệt được thành lập từ lực lượng nòng cốt.
3. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Lực lượng rộng rãi trong phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp hiện nay do ai tham gia? Chi tiết về lực lượng này ra sao? (hình từ Internet)
Chi tiết quy định về lực lượng rộng rãi trong phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp tại NĐ 190 ra sao?
Căn cứ theo quy định tại Điều 11 Nghị định 190/2026/NĐ-CP có quy định chi tiết về lực lượng rộng rãi trong phòng ngừa ứng phó khắc phục tình trạng khẩn cấp cụ thể như sau:
Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia để thực hiện các nhiệm vụ ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp.
Nhiệm vụ của lực lượng rộng rãi gồm:
- Tham gia cứu nạn, sơ tán Nhân dân, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhà nước và Nhân dân tại địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
- Tham gia ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa tại địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
- Hỗ trợ cung ứng hậu cần, y tế, lương thực, nhu yếu phẩm và các hoạt động thiết yếu khác;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Tổ chức lực lượng rộng rãi như sau:
- Việc huy động lực lượng rộng rãi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật phải phù hợp với tình hình thực tế và từng đối tượng được huy động;
- Quyết định huy động phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, nhiệm vụ, thời gian và chế độ, chính sách áp dụng;
- Công dân, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm chấp hành quyết định huy động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Lực lượng rộng rãi có thể được tổ chức theo tổ, đội, nhóm.
Quản lý, chỉ huy, sử dụng lực lượng rộng rãi quy định như sau:
- Lực lượng rộng rãi do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý, chỉ huy, sử dụng; việc quản lý, chỉ huy, sử dụng lực lượng rộng rãi phải bảo đảm đúng mục đích, đúng nhiệm vụ, an toàn, hiệu quả;
- Không được sử dụng lực lượng rộng rãi vào các hoạt động trái pháp luật hoặc ngoài địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
- Khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ, lực lượng rộng rãi được giải thể.
Quyền và nghĩa vụ của người tham gia lực lượng rộng rãi bao gồm:
- Được bảo đảm an toàn, được cung cấp đầy đủ thông tin, hướng dẫn cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp;
- Được hưởng chế độ, chính sách quy định tại Chương II Nghị định này;
- Có nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về an toàn, kỷ luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp.
Thông tin về tình trạng khẩn cấp theo Luật tình trạng khẩn cấp 2025 quy định ra sao?
Căn cứ theo quy định tại Điều 11 Luật Tình trạng khẩn cấp 2025 có quy định thông tin về tình trạng khẩn cấp hiện nay như sau
- Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, lệnh của Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp phải được thông báo ngay trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.
- Việc ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp được thông báo ngay cho các quốc gia thành viên Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương công bố thông tin kịp thời, thông suốt, chính xác về tình trạng khẩn cấp đến người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình, tiếp nhận thông tin từ người dân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp và cứu trợ, hỗ trợ khẩn cấp; bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.
- Sử dụng số điện thoại 112 để tiếp nhận, xử lý thông tin tình trạng khẩn cấp về thảm họa trên phạm vi toàn quốc.
- Trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp kiểm soát thông tin cần thiết để ngăn chặn, xử lý thông tin sai sự thật, xuyên tạc, gây hoang mang trong Nhân dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Việc kiểm soát thông tin bao gồm các hoạt động sau đây:
+ Kiểm soát, kiểm duyệt việc đưa tin, phát tin, đăng tải, chia sẻ thông tin về tình trạng khẩn cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng và không gian mạng; quản lý đặc biệt đối với việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc và dịch vụ viễn thông;
+ Thiết lập quy trình cho hoạt động tác nghiệp của phóng viên trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];