Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay?

Nguyễn Thị Minh Hiếu 7,190 lượt xem
08:08 | 23/10/2025
Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay?
Nội dung chính
  1. Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay?
  2. Hợp đồng đặt cọc mua đất, nhà đất, nhà chung cư là gì?
  3. Hợp đồng mua bán nhà đất công chứng hay chứng thực?

Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay?

Ngày 20/10/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Khu vực 2 có Công văn 5553/KV2-TTRA năm 2025 về cảnh báo rủi ro trong hoạt động cho vay gửi các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai.

TẢI VỀ Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA năm 2025

Trong thời gian qua Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 (NHNN KV2) thường xuyên nhận được đơn thư của công dân phản ánh việc các ngân hàng thương mại cho vay để thanh toán tiền đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận cho các đơn vị tư vấn, môi giới bất động sản. Theo nội dung trình bày tại đơn, các công dân bức xúc và cho rằng các ngân hàng thương mại có nhiều sai phạm trong quá trình cấp tín dụng cho công dân với mục đích nêu trên.

Từ thực tế công tác tiếp công dân, xử lý đơn của NHNN KV2 và thông tin xử lý vụ việc có nội dung tương tự của ОAX.Н.С. các cơ quan chức năng, NHNN KV2 có một số ý kiến liên quan đến việc cho vay de thanh toán tiền đặt cọc chứng minh năng lực tài chính theo thỏa thuận tại Văn an thỏa thuận như sau:

(1) Một số rủi ro và hệ lụy khi ngân hàng thương mại thực hiện cho vay với mục đích thanh toán tiền đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận:

- Rủi ro pháp lý, tranh chấp, khiếu kiện:

Tòa án nhân dân Khu vực 7 Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử và có bản án (chưa có hiệu lực pháp luật do có kháng nghị, kháng cáo) trong đó nhận định nội dung thỏa thuận về tiền đặt cọc, tiến độ, thời hạn đặt cọc, phương thức nộp tiền đặt cọc, xử lý tiền cọc tại Văn bản thỏa thuận là trái quy định pháp luật, do đó Văn bản thỏa thuận bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của Luật theo quy định tại Điều 117, Điều 123 Bộ luật dân sự 2015.

Ngày 07/10/2025, Sở xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với một công ty tư vấn, môi giới về hành vi kinh doanh bất động sản mà bất động sản đó không đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định hoặc không được phép đưa vào kinh doanh theo quy định liên quan đến việc công ty tư vẫn, môi giới ký kết Văn bân thỏa thuận với khách hàng.

Đồng thời, Sở xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh cũng có Thông báo 11410/TB-SXD-QLN&TTBĐS năm 2025 thông báo về việc chấp hành quy định pháp luật về công khai thông tin bất động sản, dự án bắt động sản đưa vào kinh doanh trên địa bàn Thành phổ (đổi với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, dự án bất động sản). Trong đó có nội dung để nghị các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, dự án bất động sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh không được ủy quyền cho tổ chức, cá nhần khác ký hợp đồng đặt cọc, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng,...

Trước đó, Sở xây dựng tỉnh Bình Thuận cũng đã có Văn bản số 962/SXDQLN&PTĐT ngày 14/4/2023 về việc chấn chỉnh việc giao dịch, mua bán và chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, trong đó đề nghị các chủ đầu tư kinh doanh bất động sản trên địa bàn tỉnh Bình Thuận không thực hiện hoặc ký kết hợp đồng với đơn vị môi giới bất động sản để thực hiện các hoạt động giao dịch mua bán, chuyển nhượng hoặc vận dụng các hình thức giữ chỗ, đặt chỗ, đăng ký vị trí,...khi các bất động sản chưa đủ điều kiện giao dịch.

Như vậy, trong trường hợp các Văn bản thỏa thuận trái với quy định pháp luật và bị tuyên vô hiệu, ngân hàng thương mại có khả năng phải đối mặt với rủi ro pháp lý, rủi ro tranh chấp, khiếu kiện rất lớn và sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm.

- Rủi ro nợ xấu, rủi ro tín dụng và rủi ro thiệt hại tài chính: Ngân hàng giải ngân để khách hàng thanh toán tiền đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận cho các đơn vị tư vấn, môi giới để được mua các bất động sản khi chủ đầu tư có đủ điều kiện bán bất động sản theo quy định của pháp luật. Như vậy, mục đích sau cùng của Văn bản thỏa thuận hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả triển khai dự án của chủ đầu tư.

Do đó, trường hợp dự án bị chậm tiến độ, tạm dừng hoặc không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện và nếu trước đó, khi thực hiện cho vay ngân hàng chưa đánh giá đầy đủ năng lực tài chính của đơn vị tư vấn, môi giới, chưa kiểm soát toàn diện dòng tiền giải ngân (để đảm bảo đơn vị tư vấn, môi giới có khả năng hoàn trả tiền cọc, tiền phạt theo đúng thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận, Cam kết ba bên khi vi phạm thỏa thuận, cam kết) thì ngân hàng có thể đối mặt với việc gia tăng phát sinh chỉ phí, phát sinh nợ xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, gây ra nguy cơ thiệt hại tài chính, nguy cơ mất vốn cho các ngân hàng thương mại.

- Rủi ro hoạt động và uy tín: Khi ngân hàng cấp tín dụng để thanh toán tiền đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận, trong trường hợp đơn vị môi giới, tư vấn không thể thực hiện đúng theo các cam kết, thỏa thuận và xảy ra tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện giữa các bên có liên quan, công dân thường sẽ cho rằng ngân hàng và các đơn vị tư vấn, môi giới phối hợp để thực hiện các hành vi vi phạm quy định pháp luật, phối hợp để lừa dối công dân.

Trên thực tế, có nhiều dự án đã không hoàn thành đúng thời hạn, công dân căn cứ vào Văn bản thỏa thuận, cam kết ba bên yêu cầu đơn vị tư vấn, môi giới trả tiền cọc, yêu cầu ngân hàng thương mại đòi tiền vay từ đơn vị tư vấn, môi giới.

Trong khi đó các ngân hàng thương mại căn cứ vào hợp đồng tín dụng đòi nợ công dân dẫn đến mâu thuẫn, khiếu nại, tập trung đông người tại trụ sở các ngân hàng. Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, uy tín cũng như hoạt động của ngân hàng thương mại.

(2) Từ những nhận định nêu trên, NHNN KV2 đề nghị các ngân hàng thương mại thực hiện một số nội dung như sau:

- Theo dõi chặt chẽ việc xử lý, kết luận của cơ quan chức năng (Tòa án, Sở ban ngành,...) đối với Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự) ký kết giữa khách hàng và đơn vị tư vấn, môi giới để đưa ra các giải pháp giải quyết tranh chấp với khách hàng kịp thời, đúng quy định pháp luật.

- Yêu cầu các ngân hàng đang phát sinh khoản cho vay để thanh toán tiền đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự) chủ động làm việc với khách hàng, phối hợp với các đơn vị tư vấn, môi giới, chủ đầu tư dự án để thỏa thuận, giải quyết trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng; tránh để xảy ra trường hợp khiếu kiện, khiếu nại đông người, vượt cấp.

Tạm dừng việc cho vay để thanh toán tiền đặt cọc theo Văn bản thỏa thuận như nêu trên (hoặc hình thức tương tự) cho đến khi có kết luận chính thức từ cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan có thầm quyền kết luận Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự) không trái pháp luật, trong trường hợp tiếp tục cho vay, đề nghị các ngân hàng thương mại xây dựng quy trình cụ thể đối với mục đích vay trên để hạn chế rủi ro. Trong đó, quy trình cho vay cần quy định biện pháp quản lý rủi ro, đảm bảo quyền lợi của khách hàng như: (i) cung cấp thông tin, khuyến nghị rõ ràng cho khách hàng về các rủi ro khi vay vốn để đặt cọc theo thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự) khi bất động sản chưa đủ điều kiện đưa vào kinh doanh, khuyến cáo khách hàng tìm hiểu kỹ tính trạng pháp lý của dự án trước khi thực hiện các giao dịch; (ii) giải thích, đề nghị khách hàng đưa nội dung thỏa thuận phong tỏa số tiền đặt cọc cho đơn vị tư vấn, môi giới vào nội dung Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự), Hợp đồng cấp tín dụng để đảm bảo số tiền đặt cọc được sử dụng đúng mực đích và có thể thu hồi khi đơn vị tư vấn, môi giới vi phạm thỏa thuận tại Văn bản thỏa thuận (hoặc hình thức tương tự), tránh tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện như tình trạng đang diễn ra hiện nay.

- Báo cáo khó khăn, vướng mắc (nếu có) trong quá trình triển khai thực hiện đến NHNN KV2 để được giải quyết theo thẩm quyền và quy định pháp luật.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 2 gửi các ngân hàng thương mại trên địa bản TP.Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai để biết và thực hiện.

Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay?

Toàn văn Công văn 5553/KV2-TTRA rủi ro trong cho vay thanh toán tiền đặt cọc bất động sản và yêu cầu tạm dừng cho vay? (Hình từ Internet)

Hợp đồng đặt cọc mua đất, nhà đất, nhà chung cư là gì?

Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đặt cọc như sau:

Đặt cọc
1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, về bản chất, hợp đồng đặt cọc chính là một dạng thỏa thuận nhằm để ràng buộc các bên thực hiện một giao dịch dân sự khác.

Trên thực tế, người dân có thể đặt cọc để mua bán nhà, mua bán đất hoặc đặt cọc để thuê nhà... Mặc dù không có quy định nào yêu cầu các bên phải đặt cọc, tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện thỏa thuận, hợp đồng khác, các bên vẫn thường xuyên sử dụng Hợp đồng đặt cọc, nhất là trong các Hợp đồng mua bán bất động sản.

Hợp đồng mua bán nhà đất công chứng hay chứng thực?

Tại Điều 500 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.

Căn cứ vào quy định trên thì có thể hiểu hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là sự thỏa thuận giữa người sử dụng (bên chuyển nhượng) và bên nhận quyền sử dụng (bên nhận chuyển nhượng), theo đó bên bán thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bên mua, đồng thời bên mua thực hiện các nghĩa vụ tài chính và các quyền, nghĩa vụ khác được ghi nhận trong hợp đồng với bên bán.

Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng đất) phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch mua bán đất là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, các bên trong giao dịch có thể lựa chọn công chứng hoặc chứng thực hợp đồng để đảm bảo giá trị pháp lý. Trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản thì có thể lựa chọn công chứng hoặc chứng thực hoặc không thực hiện công chứng, chứng thực.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Minh Hiếu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Bất động sản Xem thêm

Bài viết mới nhất