Toàn văn Công điện 32/CĐ-TTg (Hỏa tốc) về việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 2026 ra sao?
Ngày 19/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã có Công điện 32/CĐ-TTg năm 2026 về việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
>>> TẢI VỀ Toàn văn Công điện 32/CĐ-TTg năm 2026

Theo đó, thực hiện các Kết luận của Bộ Chính trị và Chương trình công tác năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 được sửa đổi, bồ sung bởi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 2092/NQ-UBTVQH15 năm 2026 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Nghị quyết 2093/NQ-UBTVQH15 năm 2026 thành lập Ban Chi đạo về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do đồng chí Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng ban (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo);
Ban Chỉ đạo đã ban hành Kế hoạch (kèm theo Quyết định 05/QĐ-BCĐ năm 2026) ngày 10 tháng 4 năm 2026 triển khai tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Việc thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, mang tính chiến lược, góp phần hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật; khắc phục triệt để các nội dung chồng chéo, vướng mắc, mâu thuẫn, quy định không rõ ràng làm phát sinh chỉ phí xã hội;
Tiếp tục rà soát, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính, chi phí tuần thủ của người dân và doanh nghiệp theo phương châm chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển” tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng “2 con số” và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo các nghị quyết, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.
Kết quả của tổng rà soát phải kiến nghị đề xuất hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật theo đúng tinh thần Kết luận 09-KL/TW năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triên đất nước trong kỷ nguyên mới, bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, thống nhất, đồng bộ, khả thi; khơi thông động lực phát triển đất nước.
Trong khi đó, khối lượng công việc thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật là rất lớn với yêu cầu cao về chất lượng, tiến độ phải thực hiện trong thời gian ngắn.
Do đó, để việc triển khai nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện kịp thời, đồng bộ, thống nhất, bảo đảm hiệu quả, chất lượng, Thủ tướng Chính phủ đề nghị:
(1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo:
- Quán triệt đầy đủ, nghiêm túc ý nghĩa quan trọng của nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở đó, bám sát Kế hoạch tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Ban Chỉ đạo để kịp thời chỉ đạo việc xây dựng, ban hành Kế hoạch thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại bộ, ngành, địa phương mình, bảo đảm xác định rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ sản phẩm thực hiện;
- Thành lập Tổ công tác của bộ, ngành, địa phương do Lãnh đạo Bộ, ngành, địa phương làm Tổ trưởng để triển khai thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm sự phối hợp hiệu quả và huy động sự tham gia tích cực của cán bộ, công chức có năng lực, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn sâu và các chuyên gia trong các lĩnh vực;
- Ưu tiên bố trí nguồn lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; huy động, bố trí cán bộ có năng lực, kinh nghiệm tham gia vào nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; coi trọng việc lấy ý kiến của đổi tượng chịu tác động trực tiếp, nhất là người dân, doanh nghiệp, chuyên gia, đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tổ chức thực thi pháp luật; phát hiện và xử lý vướng mắc, tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý đầy đủ, rõ ràng, tránh hình thức và có cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tiễn;
- Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo hỗ trợ thực hiện việc rà soát văn bản quy phạm pháp luật; chuẩn hóa, làm sạch và cập nhật kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, dữ liệu văn bản trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; kết nối Chuyên mục về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia với Cổng thông tin điện tử của bộ, ngành, địa phương;
- Trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo và cơ quan có thẩm quyền; thực hiện chể độ thông tin, báo cáo theo đúng yêu cầu.
Kết quả rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phải chỉ rõ từng văn bản, từng điều khoản, từng nội dung cần xử lý, phương án xử lý rõ ràng (sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới), xác định cơ quan chủ trì và thời hạn hoàn thành.
(2) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
Khẩn trương chỉ đạo việc xây dựng, ban hành hướng dẫn nội dung thực hiện rà soát và đề xuất xử lý văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp và thể chế hóa đầy đủ, toàn diện, khả thi chủ trương, đường lối của Đảng về các vấn đề liên quan đến ngành, lĩnh vực phụ trách theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo; thực hiện nghiêm túc, hiệu quả vai trò thành viên Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do đồng chí Chủ tịch Quốc hội làm Trưởng ban.
(3) Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm:
- Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ vai trò Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo;
- Thường xuyên theo dõi, đôn đốc các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; kịp thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luậtvà báo cáo Ban Chỉ đạo, Uy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề vượt quá thẩm quyền để xem xét, chỉ đạo.
(4) Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương lập dự toán bổ sung kinh phí bảo đảm thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi cả nước theo đúng yêu cầu về nội dung, thời hạn tại Nghị quyết 2092/NQ-UBTVQH15 năm 2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các quy định của pháp luật có liên quan theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo.
(5) Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm
Xây dựng, chia sẻ Danh mục các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Cơ sở dữ liệu về điều ước quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); đồng thời, kết nối, chia sẻ Cơ sở dữ liệu này với Chuyên mục về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia trước ngày 30 tháng 4 năm 2026.
(6) Bộ Khoa học và Công nghệ
Chịu trách nhiệm triển khai hướng dẫn, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật trước ngày 30 tháng 4 năm 2026.
(7) Đề nghị Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng và các Ban Đảng ở Trung ương
Phối hợp với các bộ, ngành trong việc xây dựng, chia sẻ Danh mục văn bản của Đảng do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ban Đảng ở Trụng ương ban hành đang được áp dụng tới các cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời, kết nối, chia sẻ dữ liệu này với Chuyên mục về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia.
(8) Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước
Chỉ đạo thực hiện kịp thời, chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm của mình theo Kế hoạch tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Ban Chỉ đạo; gửi thông tin, báo cáo về tình hình, kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để Bộ Tư pháp tổng hợp, trình Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
(9) Đề nghị các Tỉnh ủy, Thành ủy chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị, tổ chức ở địa phương
Triển khai kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi địa phương.
(10) Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
(11) Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, các tổ chức, hiệp hội liên quan có trách nhiệm truyền thông, huy động các chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, tổ chức, cá nhân, cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề biết, tham gia cho ý kiến chuyên sâu đối với kết quả tổng rà soát và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
(12) Đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thộng tấn xã Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường truyền thông bằng các hình thức phù hợp, hiệu quả về mục đích, yêu cầu, vai trò, ý nghĩa, tình hình, kết quả tổng rà soát, giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Toàn văn Công điện 32/CĐ-TTg (Hỏa tốc) về việc tổ chức thực hiện tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 2026 ra sao? (Hình từ Internet)
07 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là gì?
07 Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 gồm:
(1) Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2) Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật và không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tuân thủ đúng thẩm quyền, nội dung, hình thức và trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
(3) Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; phòng, chống lợi ích nhóm, cục bộ.
(4) Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bình đẳng giới; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, công khai, minh bạch, khoa học, kịp thời, ổn định, khả thi, hiệu quả.
(5) Bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp; giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
(6) Văn bản quy phạm pháp luật quy định thực hiện thí điểm phải xác định thời gian thực hiện thí điểm và phải được sơ kết, tổng kết để xem xét, quyết định việc tiếp tục áp dụng hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng chính thức.
(7) Bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với nội dung văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật như thế nào?
Căn cứ Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 quy định sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 hoặc luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.
- Văn bản quy phạm pháp luật bị bãi bỏ bằng văn bản của chính cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó hoặc bằng văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025.
- Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.
Trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Văn bản bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 phải được đăng tải trên công báo điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật.
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Thay đổi cơ bản chính sách, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng;
+ Sửa đổi, bổ sung về nội dung quá một phần hai tổng số điều.
- Cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành khác với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Trường hợp có quy định khác nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được quy định rõ trong văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
- Văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan, người có thẩm quyền ban hành.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];