Toàn văn Chỉ thị 16/CT-TTg 2026 về vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội, đánh giá đầu tư và đầu tư công trung hạn 2026 2030 ra sao?
Ngày 23/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg năm 2026 về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư; đẩy nhanh tiến độ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 2030.
Toàn văn Chỉ thị 16/CT-TTg năm 2026

Theo đó, trong thời gian qua, pháp luật hiện hành đã có những quy định về đánh giá hiệu quả đầu tư đối với dự án đầu tư công. Trong quá trình triển khai thực hiện đã đạt được một số kết quả tích cực, thông qua việc đánh giá hiệu quả, kế hoạch đầu tư công đã bố trí vốn tập trung, dần khắc phục tình trạng dàn trải, manh mún. Tuy nhiên, có nơi, có lúc, việc đánh giá hiệu quả đầu tư dự án còn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến vẫn còn tình trạng một số dự án đầu tư công không phát huy được hiệu quả đầu tư, cá biệt còn dự án có biểu hiện lãng phí.
Tại Kết luận 18-KL/TW năm 2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “hai con số"; trong đó đối với lĩnh vực đầu tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có quan điểm chỉ đạo: “Thực hiện hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội trong phân bổ, quản lý và sử dụng mọi nguồn lực. Đầu tư công hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan tỏa lớn, bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn” và yêu cầu: “Hoàn thành hướng dẫn hạch toán hiệu quả kinh tế - xã hội làm cơ sở phân bổ vốn đầu tư công.".
Thực hiện Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, các cơcơ quan khác ở trung ương; đề nghị các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy và yêu cầu các đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nội dung chủ yếu để hoàn thành xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 2030.
Cụ thể, nội dung về hạch toán kinh tế - xã hội tại Chỉ thị 16/CT-TTg năm 2026 như sau:
Quán triệt nguyên tắc việc hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tự của dự án phải được thực hiện xuyên suốt trong quá trình từ xây dựng nhu cầu, phân bổ vốn, đến tổ chức thực hiện, quản lý sử dụng vốn đầu tư công và vận hành, khai thác dự án sau khi hoàn thành đầu tư; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết phòng chống tham nhũng, lãng phí trong hoạt động đầu tư công, trong đó tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp sau:
(1) Đối với xác định nhu cầu vốn, quyết định chủ trương đầu tư và phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn:
- Khi đăng ký nhu cầu vốn: đối với từng dự án, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải báo cáo về sự cần thiết, tính khả thi, tính hiệu quả, sự phù hợp với quy hoạch có liên quan, dự kiến nguồn vốn và mức vốn.
- Về quyết định chủ trương đầu tư:
Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về đánh giá hiệu quả dự án trong bước nghiên cứu tiền khả thi, đề xuất chủ trương đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư. Các nội dụng của báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư phải đảm bảo theo quy định tại Điều 33, Điều 34, Điều 35 Luật Đầu tư công 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan; đối với từng dự án, phấn đấu lượng hóa tối đa hiệu quả đầu tư thay cho việc sử dụng các đánh giá định tính.
Trong đó lưu ý các nội dung về xác định sơ bộ hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án; sự cần thiết đầu tư, các điều kiện để thực hiện đầu tư; đánh giá về sự phù hợp với quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch; dự báo nhu cầu, phạm vi phục vụ và dự kiến mục tiêu đầu tư, quy mô và hình thức đầu tư; phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật; phân tích, lựa chọn sơ bộ các phương án đầu tư và quy mô các hạng mục đầu tư; đánh giá sơ bộ tác động xã hội; đánh giá sơ bộ tác động môi trường (nếu có) theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn, trong đó các địa phương được bố trí vốn ngân sách trung ương phải đảm bảo bố trí phần vốn còn thiếu từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để hoàn thành dự án đúng tiến độ; xác định sơ bộ chỉ phí liên quan trong quá trình thực hiện và chi phí vận hành dự án sau khi hoàn thành.
Đối với các dự án có cấu phần xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng; các dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Các dự án chỉ được phân bổ vốn khi có quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư (ngoại trừ dự án không phải quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư công 2020), tương ứng với việc dự án đã đánh giá sơ bộ hiệu quả đầu tư theo quy định.
(2) Đối với việc quyết định đầu tư và phân bổ vốn đầu tư công hằng năm:
Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện nghiêm quy định của pháp luật đầu tư công, pháp luật xây dựng và các pháp luật liên quan trong lập báo cáo nghiên cứu khả thi và quyết định đầu tư dự án theo quy định. Đối với các dự án không có cấu phần xây dựng, thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Luật Đầu tư công 2020.
Trong đó lưu ý phân tích hiệu quả đầu tư, bao gồm hiệu quả và tác động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, khả năng thu hồi vốn đầu tư (nếu có); sự cần thiết đầu tư; đánh giá sự phù hợp với quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy hoạch; phân tích, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả đầu ra của dự án; phân tích, lựa chọn quy mô hợp lý; xác định phận kỳ đầu tư; lựa chọn hình thức đầu tư; xác định tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, phương án huy động vốn.
Đối với các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin, thực hiện theo quy định pháp luật về công nghệ thông tin; các dự án có cấu phần xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng; các dự án thực hiện theo phương thức đối tác cộng tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Các dự án chỉ được phân bổ vốn hằng năm khi có quyết định đầu tư dự án, tương ứng với việc dự án đã được đánh giá hiệu quả đầu tư theo quy định của pháp luật.
(3) Đối với tổ chức thực hiện dự án:
Việc tổ chức thực thi là khâu đặc biệt quan trọng, quyết định mức độ hoàn thành kế hoạch, mức độ phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương, địa phương, các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công phải phát huy trách nhiệm cao nhất trong tổ chức thực thi qua từng khâu, từng bước.
Trên cơ sở quyết định đầu tư dự án và nguồn vốn đầu tư công hằng năm được giao, các bộ, cơ quan trụng ương và địa phương, các chủ đầu tư căn cứ các pháp luật chuyên ngành về xây dựng, đất đai, đấu thầu, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy... để tổ chức thực hiện dự án.
Tại mỗi khâu, mỗi bước cần quán triệt nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật, sử dụng vốn trách nhiệm, hiệu quả, tiết kiệm, thực hiện từng nhiệm vụ phải đảm bảo tiến độ quy định.
Các chủ đầu tư, đơn vị sử dụng vốn phải quán triệt tinh thần trách nhiệm trong đăng ký nhu cầu vốn hằng năm phù hợp với khả năng thực hiện và giải ngân. Không để xảy ra tình trạng đăng ký vốn cao để giữ vốn nhưng không có khả năng thực hiện và giải ngân, dự án không hiệu quả, dẫn đến lãng phí nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trong quá trình thực hiện dự án, các cơ quan chủ quản và các chủ đầu tư dự án phải thực hiện nghiêm việc giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định tại Nghị định 19/2026/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư.
(4) Đối với quyết toán hoàn thành dự án, khai thác, vận hành công trình: cơ quan chủ quản và đơn vị quản lý, sử dụng thực hiện nghiêm túc việc đánh giá kết thúc, đánh giá tác động của dự án nhăm xem xét các kết quả đạt được, rút ra các bài học kinh nghiệm và làm rõ hiệu quả, tính bền vũng và tác động kinh tế - xã hội so với mục tiêu đặt ra ban đầu theo quy định tại pháp luật xây dựng và Nghị định 19/2026/NĐ-CP.
(5) Về công khai, minh bạch trong đầu tư công: các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện nghiêm theo quy định tại Điều 15 Luật Đầu tư công 2020 và các văn bản hướng dẫn.
*Trên đây là "Toàn văn Chỉ thị 16 CT TTg 2026 về vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội, đánh giá đầu tư và đầu tư công trung hạn 2026 2030 ra sao?"

Toàn văn Chỉ thị 16 CT TTg 2026 về vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội, đánh giá đầu tư và đầu tư công trung hạn 2026 2030 ra sao? (Hình từ Internet)
Tổng hợp Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư công mới nhất?
Tính đến tháng 03/2026, Luật Đầu tư mới nhất được hướng dẫn thực hiện bởi các Nghị định sau:
Nghị định 19/2026/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư.
Nghị định 358/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia
Nghị định 312/2025/NĐ-CP quy định cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư và cơ chế thanh toán, quyết toán đối với dự án áp dụng loại hợp đồng BT.
Nghị định 275/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 85/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đầu tư công
Nghị định 254/2025/NĐ-CP quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công
Nghị định 85/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư công
Quy định về việc áp dụng Luật Đầu tư công ra sao?
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 102 và Điều 3 Luật Đầu tư công 2024 được bổ sung bởi Khoản 1 Điều 7 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025.
Việc áp dụng Luật Đầu tư công, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế được quy định như sau:
[1] Việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, hoạt động đầu tư công phải tuân thủ quy định của Luật Đầu tư công năm 2024 và quy định khác của pháp luật có liên quan.
[2] Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.
[3] Việc thực hiện chương trình, dự án đầu tư công tại nước ngoài tuân thủ quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế giữa bên Việt Nam với bên nước ngoài.
[4] Việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.
[5] Nhiệm vụ, dự án đầu tư do tổ chức, cá nhân tài trợ hợp pháp và yêu cầu không đưa vào ngân sách nhà nước thì không phải thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2024.
[6] Đối với các địa phương thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù hoặc áp dụng mô hình chính quyền đô thị, thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công năm 2024 và Nghị quyết của Quốc hội. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Đầu tư công năm 2024 và Nghị quyết của Quốc hội về cùng một vấn đề thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.
- Chỉ thị 16
- Toàn văn Chỉ thị 16
- Chỉ thị 16 CT TTg 2026
- Toàn văn Chỉ thị 16 CT TTg 2026
- Chỉ thị 16 CT TTg 2026 về vốn đầu tư công
- Chỉ thị 16 CT TTg 2026 về vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế
- Chỉ thị 16 CT TTg 2026 về vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội
- Đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội
- Vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế xã hội
- Luật đầu tư công
- Đầu tư công
- Vốn đầu tư công
- Đầu tư công trung hạn
- Kế hoạch đầu tư công trung hạn
- Đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 2030
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];