- Tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động thuộc thu nhập chịu thuế TNCN theo Công văn 5943 ra sao?
- Người nộp thuế phải tự quyết toán thuế để giảm trừ chi phí y tế giáo dục theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP đúng không?
- Quy định về giảm trừ gia cảnh theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025
Tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động thuộc thu nhập chịu thuế TNCN theo Công văn 5943 ra sao?
Ngày 3/8/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 5943/CT-CS năm 2026 Tải về hướng dẫn chính sách thuế thu nhập cá nhân.
Theo đó, Cục Thuế giải đáp vướng mắc về chính sách thuế thu nhập cá nhân tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động tại Công văn 5943/CT-CS năm 2026 như sau:
Người lao động được hưởng số tiền hỗ trợ thôi việc theo phương án sắp xếp lao động với số tiền 282.840.000 đồng, bao gồm khoản hỗ trợ tương ứng tiền lương của 12 tháng đầu sau khi thôi việc và khoản hỗ trợ tiền lương các tháng tiếp theo cho đến khi người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động 2019. Khoản hỗ trợ này được chi từ Quỹ phúc lợi của Công ty mẹ theo chính sách nội bộ của doanh nghiệp.
Khoản hỗ trợ nêu trên không phải là trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động hoặc Luật Bảo hiểm xã hội; đồng thời không phải là khoản phụ cấp, trợ cấp do cơ quan nhà nước có thầm quyền quy định để được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế theo điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Căn cứ khoản 2 Điều 2 và khoản 2 Điều 8 Thông tư 111/2013/TT-BTC, khoản hỗ trợ này là khoản thu nhập do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động, không thuộc các khoản được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế.
Do vậy, khoản hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động với số tiền 282.840.000 đồng thuộc thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công và phải tổng hợp vào thu nhập chịu thuế khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2025.
*Trên đây là thông tin về "Tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động thuộc thu nhập chịu thuế TNCN".

Tiền hỗ trợ người lao động thôi việc theo phương án sắp xếp lao động thuộc thu nhập chịu thuế TNCN theo Công văn 5943 ra sao?
Người nộp thuế phải tự quyết toán thuế để giảm trừ chi phí y tế giáo dục theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP đúng không?
Ngày 30/6/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó quy định người nộp thuế phải tự quyết toán thuế để giảm trừ chi phí y tế giáo dục.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, người nộp thuế sẽ được giảm trừ tối đa 47 triệu đồng cho chi phí y tế giáo dục khi tính thuế TNCN, bao gồm:
+ Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
+ Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
Điều kiện giảm trừ chi phí y tế giáo dục được quy định tại khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP gồm:
(1) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; (2) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế; (3) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức. Đồng thời tại khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ các khoản chi phí giáo dục y tế nêu trên vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế. |
Lưu ý: Các khoản giảm trừ khác phát sinh vào năm nào thì được tính giảm trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó, không được chuyển trừ vào thu nhập chịu thuế của năm tính thuế tiếp theo. Trường hợp cá nhân đã thực hiện quyết toán thuế mà chưa có hóa đơn, chứng từ để xác định các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo theo quy định trên thì việc điều chỉnh nghĩa vụ thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Như vậy, theo quy định trên, người nộp thuế phải tự quyết toán thuế để giảm trừ chi phí y tế giáo dục và đáp ứng các điều kiện để được giảm trừ tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Quy định về giảm trừ gia cảnh theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025
Quy định về giảm trừ gia cảnh được quy định tại Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, cụ thể như sau:
[1] Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh gồm:
- Mức giảm trừ đối với người nộp thuế là 15,5 triệu đồng/tháng (186 triệu đồng/năm);
- Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng.
[2] Căn cứ biến động của giá cả, thu nhập, Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản [1] phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
[3] Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế.
[4] Người phụ thuộc là người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, bao gồm:
- Con chưa thành niên; con là người mất năng lực hành vi dân sự, người khuyết tật, không có khả năng lao động;
- Các cá nhân không có thu nhập hoặc có thu nhập không vượt quá mức do Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định, bao gồm con thành niên đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề; vợ hoặc chồng không có khả năng lao động; bố, mẹ đã hết tuổi lao động hoặc không có khả năng lao động; những người khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];