Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?

Nguyễn Văn Phú 403 lượt xem
19:49 | 05/02/2026
Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?
Nội dung chính
  1. Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?
  2. Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng là gì?
  3. Nguyên tắc tính tiền thưởng theo Nghị định 152 ra sao?

Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?

Ngày 23/01/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn 85/TTg-V.I về việc tăng cường chấp hành, chỉ đạo chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính, trong đó có nội dung không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính.

>>> TẢI VỀ Toàn văn Công văn 85/TTg-V.I năm 2026

Theo đó, tại nội dung Công văn 85/TTg-V.I năm 2026, quy định về vấn đề không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính như sau:

* Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền:

- Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Luật Tố tụng hành chính về trách nhiệm tham gia đối thoại, tham gia phiên tòa và cung cấp tài liệu, chứng cứ trong các vụ án hành chính mà cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước bị khởi kiện; chỉ đạo rà soát, phân công trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân và xác định rõ thời hạn, lộ trình chi tiết để tổ chức thi hành dứt điểm các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có hiệu lực thi hành mà Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân là bên phải thi hành án, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “ba không”, không tham gia tố tụng, không kháng cáo khi không đồng tình với bản án, quyết định và không tổ chức thi hành khi bản án, quyết định đã có hiệu lực trong bộ máy hành chính nhà nước trên địa bàn địa phương.

- Báo cáo, đề xuất Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy xem xét đưa vào diện Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh theo dõi, chỉ đạo đối với những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc trách nhiệm thi hành của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, nhất là những bản án, quyết định chưa thi hành xong đã kéo dài nhiều năm, Tòa án đã ra quyết định buộc thi hành án hành chính, cơ quan có thẩm quyền đã đôn đốc, kiến nghị việc thi hành án hành chính

- Chi đạo tổ chức kiểm tra thanh tra, xem xét và xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi chậm thi hành án, không chấp hành, chấp hành không đúng hoặc không đầy đủ nội dung bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015, Nghị định 71/2016/NĐ-CP quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án và Chỉ thị 26/CT-TTg năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính.

- Đưa nội dung công tác thi hành án hành chính vào chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của Ủy ban nhân dân các cấp; bổ sung tiêu chí đánh giá kết quả thi hành án hành chính vào tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ và bình xét thi đua, khen thưởng đối với các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh, thành phố.

Thực hiện và chỉ đạo thực hiện nghiêm Điều 31 Nghị định 71/2016/NĐ-CP quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án về việc không xét thi đua, khen thưởng; không đánh giá, phân loại ở mức độ hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác thi hành án hành chính, trách nhiệm của người đứng đầu, xác định đây là một trong những nội dung cần phải xem xét trong công tác đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ.

- Chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh, thành phố trong công tác thi hành án hành chính; phối hợp chặt chẽ với cơ quan kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn trong quá trình các cơ quan này thực hiện chức năng kiểm sát và theo dõi thi hành án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính 2015 và Nghị định 71/2016/NĐ-CP.

Như vậy, theo nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, sẽ không tiến hành xét thi đua, khen thưởng; không đánh giá, phân loại ở mức độ hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính.

Trên đây là "Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?"

Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao?

Không xét thi đua khen thưởng cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về thi hành án hành chính từ 23/1/2026 theo Công văn 85 ra sao? (Hình từ Internet)

Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng là gì?

Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng được quy định tại Điều 4 Nghị định 152/2025/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn.

- Cấp có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với các trường hợp đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục, hồ sơ theo quy định.

- Kết quả khen thưởng thành tích đột xuất, thi đua theo chuyên đề không dùng làm căn cứ để đề nghị cấp trên khen thưởng công trạng.

- Chưa khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng cho cá nhân, tập thể trong thời gian cơ quan có thẩm quyền đang xem xét thi hành kỷ luật hoặc điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo, có vấn đề tham nhũng, tiêu cực được báo chí nêu đang được xác minh làm rõ.

Trường hợp cá nhân, tập thể bị kỷ luật, sau khi chấp hành xong thời gian kỷ luật, cá nhân, tập thể lập được thành tích thì thành tích khen thưởng được tính từ thời điểm chấp hành xong thời gian thi hành kỷ luật.

Hết thời gian cơ quan có thẩm quyền có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc văn bản đã xác minh làm rõ cá nhân, tập thể không có sai phạm hoặc không có dấu hiệu vi phạm thì cấp có thẩm quyền thực hiện việc khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng theo quy định.

- Thời gian nghỉ thai sản đối với cá nhân theo quy định được tính để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

- Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng.

- Thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến đối với cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung. Trường hợp cá nhân nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn thì thời gian để xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.

Nguyên tắc tính tiền thưởng theo Nghị định 152 ra sao?

Theo Điều 49 Nghị định 152/2025/NĐ-CP quy định về nguyên tắc tính tiền thưởng như sau:

- Tiền thưởng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình được khen thưởng được tính trên cơ sở mức lương cơ sở do Chính phủ quy định đang có hiệu lực vào thời điểm ban hành quyết định công nhận danh hiệu thi đua, quyết định hình thức khen thưởng.

- Tiền thưởng sau khi nhân với hệ số mức lương cơ sở được làm tròn số lên hàng chục nghìn đồng tiền Việt Nam.

- Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cao hơn thì mức tiền thưởng cao hơn.

- Trong cùng một hình thức khen thưởng, cùng một mức khen thưởng, mức tiền thưởng đối với tập thể cao hơn mức tiền thưởng đối với cá nhân.

- Trong cùng một thời điểm, một đối tượng đạt nhiều danh hiệu thi đua, có thời gian được tính để đạt các danh hiệu thi đua đó khác nhau thì được nhận tiền thưởng của các danh hiệu thi đua tương ứng.

Trong cùng một thời điểm, một đối tượng đạt nhiều danh hiệu thi đua, có cùng thời gian được tính để đạt các danh hiệu thi đua đó thì được nhận tiền thưởng danh hiệu thi đua cao nhất.

- Trong cùng một thời điểm, một đối tượng đạt nhiều hình thức khen thưởng, có thời gian, thành tích đạt được các hình thức khen thưởng đó khác nhau thì được nhận tiền thưởng của các hình thức khen thưởng tương ứng.

- Trong cùng thời điểm, một đối tượng vừa được tặng danh hiệu thi đua vừa được quyết định hình thức khen thưởng thì được nhận tiền thưởng của danh hiệu thi đua và của hình thức khen thưởng.

- Trong trường hợp thực hiện chính sách cải cách tiền lương, Chính phủ sẽ quy định quỹ thi đua khen thưởng và mức tiền thưởng đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng tặng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Văn Phú Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất