- Công văn 9122/VPCP-KGVX thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn ra sao?
- Nguyên tắc hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú là gì?
- Điều kiện được hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú là gì?
Công văn 9122/VPCP-KGVX thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn ra sao?
Ngày 8/9/2026, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn 9122/VPCP-KGVX năm 2026, về việc thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chính sách 
Theo đó, xét báo cáo, đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại văn bản 1861/BCBGDĐT ngày 03 tháng 9 năm 2026 về tình hình thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên tại văn bản số 7708/BC-UBND ngày 03 tháng 9 năm 2026 báo cáo kết quả thực hiện chế độ, chính sách đối với học sinh trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu có ý kiến như sau:
(1) Giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 66/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 03 năm 2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 11 năm 2026.
(2) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền bố trí nguồn ngân sách trung ương để thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người học, nhất là các chính sách áp dụng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, ven biển và hải đảo; xem xét, quyết định xuất cấp gạo dự trữ quốc gia theo đúng khung thời gian dự kiến 04 đợt của địa phương để các cơ sở giáo dục chủ động cấp phát cho học sinh kịp thời khi bước vào các giai đoạn học kỳ.
(3) Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, cơ quan liên quan rà soát, tổng hợp, phân tích dữ liệu về danh mục các xã, thôn theo trình độ phát triển để tham mưu các chính sách phù hợp với từng địa bàn, tránh dàn trải, lợi dụng chính sách, lãng phí nguồn lực.
(4) Các Bộ: Công an, Nội vụ, Y tế, Nông nghiệp và Môi trường theo chức năng, nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ, chia sẻ dữ liệu về hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người khuyết tật và các nhóm đối tượng chính sách cho ngành Giáo dục và Đào tạo góp phần giảm giấy tờ xác nhận, cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý, tiết giảm thời gian, chi phí cho các đối tượng liên quan.
(5) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương rà soát các học sinh trước đây thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, sau khi tỉnh, thành phố ban hành Quyết định công bố danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không còn được hưởng chính sách theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP và các chính sách khác; xác định cụ thể số lượng học sinh, mức độ khó khăn và nhu cầu hỗ trợ; báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính để tổng hợp, nghiên cứu sửa đổi quy định bảo đảm phù hợp. Trước mắt, các địa phương cần chủ động huy động, bố trí nguồn lực hợp pháp, bảo đảm các điều kiện thiết yếu về ăn, ở và học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn ngay từ đầu năm học 2026-2027.
(6) Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ trên đây; tiếp tục rà soát toàn diện việc thực hiện các chính sách hỗ trợ trẻ em, học sinh, sinh viên; kịp thời hướng dẫn địa phương trong triển khai chính sách, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm phù hợp với thực tiễn theo thẩm quyền; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền.
Văn phòng Chính phủ thông báo để các Bộ, cơ quan, địa phương biết, thực hiện.
Xem thêm tại Công văn 9122/VPCP-KGVX năm 2026 >> TẢI VỀ

Công văn 9122/VPCP-KGVX thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn ra sao?
Nguyên tắc hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú là gì?
Căn cứ Điều 5 Nghị định 66/2025/NĐ-CP quy định về nguyên tắc hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú như sau:
- Trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Nghị định này, đồng thời thuộc đối tượng áp dụng của chính sách cùng loại quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác thì chỉ được hưởng một mức cao nhất của chính sách đỏ.
- Học sinh, học viên là đối tượng được hưởng chính sách trợ cấp ưu đãi, trợ cấp xã hội, học bổng khuyến khích học tập thì vẫn được hưởng chính sách quy định tại Nghị định 66/2025/NĐ-CP.
- Học sinh, học viễn nếu bị lưu ban thì năm học lưu ban đầu tiên vẫn được hưởng chính sách quy định tại Nghị định này. Trường hợp học sinh, học viên phải tạm dừng học do ốm đau, tai nạn hoặc vì lí do bất khả kháng không do kỷ luật hoặc tự thôi học thì vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định 66/2025/NĐ-CP trong thời gian tạm dừng học.
Điều kiện được hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú là gì?
Căn cứ Điều 4 Nghị định 66/2025/NĐ-CP quy định về điều kiện được hưởng chính sách trẻ em nhà trẻ bán trú, học sinh bán trú, học viên bán trú như sau:
(1) Trẻ em nhà trẻ bản trả phải đảm bảo một trong các điều kiện sau:
- Trẻ em nhà trẻ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thần đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khổ khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo;
- Trẻ em nhỏ trẻ người dân tộc thiểu số thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang học tại cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Trẻ em thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ
+ Trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội
+ Trẻ em là con liệt sĩ, con Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, con thương binh, con người hưởng chính sách như thương binh, con bệnh binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định tại Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (nếu có);
+ Trẻ em khuyết tật học hòa nhập.
(2) Học sinh bán trú phải đảm bảo một trong các điều kiện sau:
- Học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông (hoặc điểm trưởng) thuộc xã khu vực III, khu vực II, khu vực lạ xã có thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo, nhà ở xa trường từ 4 km trở lên đối với học sinh tiểu học và từ 7 km trở lên đối với học sinh trung học cơ sở, hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn phải qua biển, hồ, sông suối, qua đèo, núi cao, qua vùng sạt lở đất, đá, thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn;
+ Người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ mà bản thân và bù hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
- Học sinh trung học phổ thông đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông, nhà ở xa trường từ 10 km trở lên hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn phải qua biển, hồ, sông, suối, qua đèo, núi cao, qua vùng sạt lở đất, dã, thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Người dân tộc thiểu số mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn;
+ Người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn;
+ Người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã khu vực II, khu vực I vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
(3) Học viên bản trả dạng học tại cơ sở giáo dục thường xuyên mà bản thân và bố hoặc mẹ hoặc người giám hộ thường trú tại xã, thôn đặc biệt khó khăn, nhà ở xa nơi học tập từ 7 km trở lên đối với học viên học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, 10 km trở lên đối với học viên học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông; hoặc địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn phải qua biển, hồ, sông, suối, qua đèo, núi cao, qua vùng sạt lở đất, đã thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Là người dân tộc thiểu số:
+ Là người dân tộc Kinh thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều theo định của Chính phủ.
Trên đây là thông tin *Công văn 9122/VPCP-KGVX thực hiện các chính sách đối với trẻ em, học sinh, học viên có hoàn cảnh khó khăn ra sao?
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];