Công văn 8151/UBND-VX triển khai Nghị định 299/2026/NĐ-CP tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập tại TPHCM chi tiết ra sao?
Ngày 3/9/2026, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã có Công văn 8151/UBND-VX năm 2026 về việc triển khai thực hiện Nghị định 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 của Chính phủ quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập
>>> Tải về Công văn 8151/UBND-VX năm 2026
Theo đó, tại Công văn 8151/UBND-VX năm 2026 có nêu rõ như sau:
Căn cứ Nghị định 299/2026/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Chính phủ quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập
Xét đề xuất của Sở Nội vụ tại Tờ trình 15806/TTr-SNV ngày 13 tháng 8 năm 2026 về việc triển khai thực hiện Nghị định 299/2026/NĐ-CP ngày 28 tháng 7 năm 2026 của Chính phủ quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập;
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có ý kiến chỉ đạo Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố, các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu và các cơ quan, đơn vị có liên quan triển khai, thực hiện một số nội dung trọng tâm sau:
[1] Tổ chức nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung quy định của Nghị định 299/2026/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; phổ biến đến các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý để tổ chức thực hiện thống nhất.
[2] Rà soát sắp xếp tổ chức bên trong và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo hướng tinh, gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức các đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có); đảm bảo số lượng cấp phó và các nội dung khác về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 6 Nghị định 299/2026/NĐ-CP, quy định của pháp luật chuyên ngành và chỉ đạo của Trung ương.
[3] Các sở, ban, ngành Thành phố, Ủy ban nhân dân các phường, xã, đặc khu chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý xây dựng Đề án tự chủ; tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến, gửi thẩm định, hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của Nghị định 299/2026/NĐ-CP.
[4] Về nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập
- Việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập phải bảo đảm điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền quy định tại Nghị định 299/2026/NĐ-CP (trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành); một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung cấp nhiều dịch vụ sự nghiệp công trong cùng ngành, lĩnh vực hoặc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công của nhiều ngành, lĩnh vực.
- Các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập mới phải tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên (trừ trường hợp thành lập mới để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu). Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc (kể cả trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu) phải tự bảo đảm chỉ thường xuyên và chi đầu tư.
- Việc tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm một phần chi thường xuyên không được làm tăng thêm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp thực hiện hợp nhất, sáp nhập các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau thì mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sau khi hợp nhất, sáp nhập được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thành lập, tổ chức lại đơn vị.
- Việc chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện theo nguyên tắc chuyển giao nguyên trạng đơn vị sự nghiệp công lập.
[...]
>>> Xem thêm chi tiết tại Công văn 8151/UBND-VX năm 2026

Công văn 8151/UBND-VX triển khai Nghị định 299/2026/NĐ-CP tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập tại TPHCM chi tiết ra sao?
Điều kiện thành lập, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập cụ thể ra sao?
Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị định 299/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện thành lập, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể như sau:
[1] Điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khi đáp ứng các điều kiện sau:
- Phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Đáp ứng tiêu chí, điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành (trừ đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn cấp xã);
- Xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu được thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành).
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập các đơn vị này thì số lượng người làm việc được xác định theo đề án thành lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài thì số lượng người làm việc xác định trong đề án thành lập đơn vị sự nghiệp công lập được phê duyệt;
- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 5 Nghị định 299/2026/NĐ-CP, cần bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước sở tại về việc thành lập và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
[2] Điều kiện tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập tổ chức lại khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có điều chỉnh về tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phù hợp với phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực; đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng quy định về số lượng người làm việc tối thiểu quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định 299/2026/NĐ-CP
- Không đáp ứng đủ điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm b hoặc điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định 299/2026/NĐ-CP
- Không bảo đảm mức độ tự chủ tài chính theo phương án tự chủ tài chính của đơn vị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp đơn vị có thay đổi về chức năng, nhiệm vụ hoặc có biến động về tình hình kinh tế, xã hội hoặc do nguyên nhân bất khả kháng dẫn đến biến động nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm thay đổi mức độ tự chủ tài chính;
- Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, ngoài việc đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều 5 Nghị định 299/2026/NĐ-CP, cần bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước sở tại về việc tổ chức lại và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.
Quy định về xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định 299/2026/NĐ-CP?
Căn cứ theo Điều 8 Nghị định 299/2026/NĐ-CP quy định về xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập như sau:
[1] Tiêu chí xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập
- Nhóm tiêu chí về quy mô tổ chức, khối lượng công việc;
- Nhóm tiêu chí về cơ cầu, trình độ lao động và độ phức tạp quản lý;
- Nhóm tiêu chí về hạ tầng cơ sở vật chất, mức độ hiện đại hóa (tài sản, trang thiết bị, phương tiện làm việc) và mức độ số hóa (ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hạ tầng dữ liệu);
- Nhóm tiêu chí về hiệu quả hoạt động (đành giá chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, đành giá định kỳ mức độ hái lóng của người dân, ứng dụng công nghệ số đề người dẫn trực tiếp đánh già chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đôi với các dịch vụ sự nghiệp công) và hiệu quả quản lý tài chính, mức độ tự chủ tài chính;
- Các nhóm căn cứ khác theo đặc thủ của từng ngành, lĩnh vực (nếu có).
[2] Thời hạn xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập là 5 năm kể từ ngày có quyết định xếp hạng của cấp có thẩm quyền. Trong trường hợp đặc biệt, đơn vị sự nghiệp công lập đạt tiêu chí xếp hạng cao hơn thì có thể rút ngắn thời gian giữ hạng đề xếp lại vào hạng cao hơn liền kề theo quy định của pháp luật.
[3] Bộ trường bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành tiêu chí cụ thể và hướng dẫn thực hiện xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành, lĩnh vực quản lý theo [1] và [2], bảo đảm phù hợp với dặc điểm, tính chất của vùng, miền; đặc thủ của ngành, lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công, chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và các yêu cầu quản lý chuyên ngành.
[4] Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về việc xếp hạng đối với cơ sở giáo dục đại học công lập, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];