Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?

Nguyễn Thị Minh Hiếu 1,608 lượt xem
09:35 | 04/12/2025
Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?
Nội dung chính
  1. Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?
  2. Trình tự, thủ tục thu thập, cập nhật thông tin sinh trắc học về ADN vào Cơ sở dữ liệu về căn cước?
  3. Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi nào?

Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?

Thông tư 45/2025/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 19/11/2025 và có hiệu lực từ ngày 5/1/2026.

Thông tin "Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?" như sau:

Căn cứ theo khoản 6 Điều 18 Thông tư 18/2024/TT-NHNN được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 8 Thông tư 45/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 5/1/2026 quy định như sau:

Khoản 6 Điều 18 Thông tư 18/2024/TT-NHNN (hết hiệu lực từ ngày 5/1/2026)

Khoản 2 Điều 8 Thông tư 45/2025/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 5/1/2026) tức thay thế Khoản 6 Điều 18 Thông tư 18/2024/TT-NHNN.

Thẻ chỉ được sử dụng để thực hiện giao dịch thẻ bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu đảm bảo khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ thẻ với:

(1) Dữ liệu sinh trắc học được lưu trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử của người đó do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; hoặc

(2) Dữ liệu sinh trắc học đã được thu thập và kiểm tra (đảm bảo sự khớp đúng giữa dữ liệu sinh trắc học của người đó với dữ liệu sinh trắc học trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc với dữ liệu sinh trắc học của người đó thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập); hoặc

(3) Dữ liệu sinh trắc học được thu thập thông qua gặp mặt trực tiếp người đó đối với trường hợp là người nước ngoài không sử dụng danh tính điện tử, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch; hoặc

(4) Dữ liệu sinh trắc học của người đó được lưu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong trường hợp sử dụng thẻ căn cước công dân không có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa.

Thẻ chỉ được sử dụng để thực hiện giao dịch thẻ bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu đảm bảo khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ thẻ đối với thẻ của khách hàng cá nhân, người đại diện hợp pháp đối với thẻ của khách hàng tổ chức với:

(1) Dữ liệu sinh trắc học được lưu trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử của người đó do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; hoặc

(2) Dữ liệu sinh trắc học đã được thu thập và kiểm tra (đảm bảo sự khớp đúng giữa dữ liệu sinh trắc học của người đó với dữ liệu sinh trắc học trong bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa của thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc với dữ liệu sinh trắc học của người đó thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập); hoặc

(3) Dữ liệu sinh trắc học được thu thập thông qua gặp mặt trực tiếp người đó đối với trường hợp là người nước ngoài không sử dụng danh tính điện tử, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch; hoặc

(4) Dữ liệu sinh trắc học của người đó được lưu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trong trường hợp sử dụng thẻ căn cước công dân không có bộ phận lưu trữ thông tin được mã hóa.

=> Như vậy, theo khoản 2 Điều 8 Thông tư 45/2025/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 5/1/2026 chỉ bổ sung quy định về chủ thể thực hiện, quy định cụ thể rõ ràng hơn so với quy định hiện tại tại khoản 6 Điều 18 Thông tư 18/2024/TT-NHNN - bổ sung: "chủ thẻ đối với thẻ của khách hàng cá nhân, người đại diện hợp pháp đối với thẻ của khách hàng tổ chức"

Tức, đối với thẻ của khách hàng tổ chức phải ủy quyền bằng văn bản cho chủ thẻ phụ sử dụng thẻ của tổ chức đó theo quy định tại Thông tư 45/2025/TT-NHNN và quy định của pháp luật về ủy quyền.

(Theo khoản 2 Điều 15 Thông tư 18/2024/TT-NHNN được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 7 Thông tư 45/2025/TT-NHNN)

Đối với chủ thẻ chính là tổ chức: Tổ chức đủ điều kiện mở tài khoản thanh toán theo quy định pháp luật được sử dụng thẻ ghi nợ. Tổ chức là pháp nhân được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được sử dụng thẻ tín dụng, thẻ trả trước định danh. Chủ thẻ chính là tổ chức phải ủy quyền bằng văn bản cho chủ thẻ phụ sử dụng thẻ của tổ chức đó theo quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật về ủy quyền

Trước 5/1/2026 hay từ 5/1/2026 thì chung quy "Thẻ chỉ được sử dụng để thực hiện giao dịch thẻ bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu đảm bảo khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ thẻ".

KẾT LUẬN: dù là hiện tại (trước 5/1/2026) hay từ 5/1/2026 thì vẫn phải bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng theo Thông tư 18/2024/TT-NHNN và Thông tư 45/2025/TT-NHNN. Riêng đối với thẻ của khách hàng tổ chức phải ủy quyền bằng văn bản cho chủ thẻ phụ sử dụng thẻ của tổ chức đó.

Tuy nhiên, quy định trên không áp dụng đối với 5 trường hợp sau:

- Thực hiện giao dịch bằng thẻ vật lý tại máy giao dịch tự động;

- Thanh toán tại thiết bị chấp nhận thẻ tại điểm bán;

- Rút tiền mặt tại thiết bị chấp nhận thẻ được lắp đặt tại chi nhánh, phòng giao dịch, điểm đại lý thanh toán của TCTTT để cung ứng tiền mặt cho chủ thẻ;

- Trích nợ tự động theo thỏa thuận giữa TCPHT và chủ thẻ;

- Chủ thẻ là tổ chức quy định tại điểm c khoản 2a Điều 9 Thông tư 45/2025/TT-NHNN

(Điều 18 Thông tư 18/2024/TT-NHNN được bổ sung bởi khoản 3 Điều 8 Thông tư 45/2025/TT-NHNN)

Lưu ý:

Văn bản quy phạm pháp luật có thể được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn, quy định cụ thể hơn so với quy định cũ hay sửa đổi, bổ sung để tránh chồng chéo các quy định pháp luật với nhau. Do đó, khi tiếp nhận thông tin pháp luật mới hoặc quy định được sửa đổi, bổ sung người dân cần tìm hiểu kỹ quy định mới có được quy định trước đó hay không để tránh hiểu sai.

Đơn cử như: Thông tin về Bắt buộc cập nhật thông tin cư trú trên VNeID trước 15/12/2025 => dù từ ngày 15/12/2025 hay trước 15/12/2025 người dẫn vẫn phải có các nghĩa vụ cập nhật thông tin cư trú trên VNeID, thực hiện đúng quy định về đăng ký và quản lý cư trú => Xem giải thích TẠI ĐÂY

Trên đây là nội dung về "Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?"

Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không?

Có bắt buộc xác thực sinh trắc học khi mở thẻ ngân hàng từ 5/1/2026 theo Thông tư 45 sửa đổi Thông tư 18 của Ngân hàng Nhà nước không? (Hình từ Internet)

Trình tự, thủ tục thu thập, cập nhật thông tin sinh trắc học về ADN vào Cơ sở dữ liệu về căn cước?

Căn cứ theo khoản 6 Điều 13 Nghị định 70/2024/NĐ-CP thì trình tự, thủ tục thu thập, cập nhật thông tin sinh trắc học về ADN vào Cơ sở dữ liệu về căn cước thực hiện như sau:

(1) Công dân nộp hồ sơ đề nghị thu thập, cập nhật thông tin sinh trắc học về ADN vào Cơ sở dữ liệu căn cước đến cơ quan quản lý căn cước;

(2) Hồ sơ đề nghị gồm: Phiếu đề nghị giải quyết thủ tục về căn cước; giấy tờ, tài liệu có giá trị pháp lý xác thực kết quả xét nghiệm, phân tích, lưu trữ thông tin sinh trắc học về ADN của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 13 Nghị định 70/2024/NĐ-CP (nếu có);

(3) Trường hợp thông tin sinh trắc học về ADN của công dân đã có trong hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 13 Nghị định 70/2024/NĐ-CP thì trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đề nghị của công dân, cơ quan quản lý căn cước có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, đối sánh và xác thực đảm bảo tính chính xác của thông tin trước khi thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu căn cước;

(4) Trường hợp thông tin sinh trắc học về ADN của công dân chưa có trong hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 13 Nghị định 70/2024/NĐ-CP thì cơ quan quản lý căn cước thông báo cho công dân bằng văn bản, nêu rõ lý do và hướng dẫn công dân thực hiện thu thập, cập nhật thông tin sinh trắc học về ADN vào hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức tại khoản 5 Điều 13 Nghị định 70/2024/NĐ-CP.

Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi nào?

Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 16 Luật Căn cước 2023 thì thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp hoặc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan quản lý người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình giải quyết vụ việc theo chức năng, nhiệm vụ có thực hiện trưng cầu giám định hoặc thu thập được thông tin sinh trắc học về ADN, giọng nói của người dân thì chia sẻ cho cơ quan quản lý căn cước để cập nhật, điều chỉnh vào Cơ sở dữ liệu căn cước.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Minh Hiếu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Tiền tệ - Ngân hàng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư 47/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 41/2024/TT-NHNN về giám sát hệ thống thanh toán có nội dung nào?

Nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 41/2024/TT-NHNN quy định về giám sát và thực hiện giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng, hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu rõ tại Thông tư 47/2026/TT-NHNN cụ thể như sau:

Bài viết mới nhất