Điểm mới về khai bổ sung hồ sơ khai thuế tại Nghị định 252 thế nào? Công văn 5061/CT-CS nêu điểm mới về khai bổ sung hồ sơ khai thuế ra sao?
Công văn 5061/CT-CS năm 2026 do Cục Thuế ban hành, giới thiệu điểm mới và triển khai Nghị định 252/2026/NĐ-CP
Theo đó, tại tiểu mục 5.4 Mục 5 Phụ lục ban hành kèm Công văn 5061/CT-CS năm 2026 có giới thiệu điểm mới về khai bổ sung hồ sơ khai thuế của Nghị định 252/2026/NĐ-CP như sau:
- Bổ sung quy định cụ thể về thủ tục không chấp nhận hồ sơ khai bổ sung của người nộp thuế theo đề nghị của cơ quan điều tra (khoản 2). Trong đó, quy định cơ quan điều tra khi gửi văn bản đề nghị cho cơ quan thuế phải nêu rõ thông tin làm căn cứ xác định (bao gồm: tên người nộp thuế, mã số thuế, loại thuế, kỳ tính thuế, thời gian áp dụng); trường hợp văn bản không xác định rõ thời gian áp dụng thì việc kết thúc yêu cầu của cơ quan điều tra được thực hiện khi cơ quan điều tra có văn bản kết thúc yêu cầu.
Cơ quan điều tra được yêu cầu người nộp thuế không khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi người nộp thuế bị điều tra trong vụ việc, vụ án do có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế hoặc do đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
- Quy định khai bổ sung, điều chỉnh hồ sơ khai thuế đối với nội dung, thời kỳ đã được thanh tra, kiểm tra (khoản 4): người nộp thuế được điều chỉnh hồ sơ khai thuế đối với kỳ đã thanh tra, kiểm tra thông qua hồ sơ giải trình; cơ quan thuế rà soát, thông báo chấp nhận hoặc không chấp nhận. Việc điều chỉnh chỉ áp dụng đối với nội dung chưa được xử lý tại kết luận, quyết định xử lý và không làm thay đổi hiệu lực của kết luận, quyết định đã ban hành; người nộp thuế bị xử lý và xử phạt vi phạm hành chính về thuế như đối với trường hợp thanh tra, kiểm tra phát hiện.
- Quy định hai trường hợp khai bổ sung theo kết luận, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
+ Khi có kết luận, quyết định liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế nhưng không thuộc trường hợp xử lý sau thanh tra, kiểm tra và không thuộc điểm b, người nộp thuế khai bổ sung nếu việc khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn, giảm lỗ (áp dụng cả đối với khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý thu) (điểm a khoản 5);
+ Khi cơ quan điều tra, Tòa án, Kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra, cơ quan thuế kết luận người bán vi phạm về hóa đơn không hợp pháp, người mua sử dụng hóa đơn thuộc phạm vi kết luận phải khai bổ sung để điều chỉnh nghĩa vụ thuế, kể cả kỳ đã được thanh tra, kiểm tra (điểm b khoản 5)
- Người nộp thuế thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế cho kỳ phát sinh sai, sót; riêng sai, sót về số thuế giá trị gia tăng đầu vào thì thực hiện kê khai theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng (khoản 6).
- Bổ sung quy định người nộp thuế chưa được thanh tra, kiểm tra hoặc hồ sơ khai thuế không thuộc phạm vi, thời kỳ thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền mà người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai, sót làm tăng số thuế, khoản thu khác phải nộp hoặc giảm số thuế, khoản thu khác đã được miễn, giảm, hoàn hoặc giảm số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ chuyển kỳ sau nhưng hồ sơ khai thuế đã quá thời hạn 05 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế thì không được khai bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng được giải trình hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế (khoản 8).
Trước đây, người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế.
Quy định này nhằm bảo đảm cân bằng giữa quyền khai bổ sung của người nộp thuế với yêu cầu phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

Điểm mới về khai bổ sung hồ sơ khai thuế tại Nghị định 252 thế nào? Công văn 5061/CT-CS nêu điểm mới về khai bổ sung hồ sơ khai thuế ra sao? (Hình từ Internet)
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai quyết toán thuế là bao lâu?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 10 Nghị định 252/2026/NĐ-CP thì đối với loại thuế khai quyết toán thuế, thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thực hiện như sau:
(1) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 03 kể từ ngày kết thúc kỳ quyết toán thuế;
(2) Chậm nhất là ngày thứ 45 kể từ ngày người nộp thuế có quyết định về việc chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản, chấm dứt hợp đồng, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất;
(3) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch đối với hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trực tiếp quyết toán thuế.
Trường hợp trong 01 năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của năm đầu tiên chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 04 kể từ ngày cuối cùng của tháng tính đủ 12 tháng liên tục;
(4) Trước khi xuất cảnh đối với cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng lao động tại Việt Nam nhưng không quá 45 ngày kể từ ngày kết thúc hợp đồng lao động.
Không nộp hồ sơ khai thuế có phải là hành vi trốn thuế không?
Căn cứ khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025 quy định về hành vi trốn thuế như sau;
Hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý thuế
...
4. Hành vi trốn thuế:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của Luật này dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn;
...
Theo đó, không nộp hồ sơ khai thuế là một trong những hành vi trốn thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];