Có được sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt trong tố tụng trọng tài khi các bên đều là doanh nghiệp Việt Nam không?

Nguyễn Khánh Huyền 8,286 lượt xem
15:54 | 01/11/2023
Có được sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt trong tố tụng trọng tài khi các bên đều là doanh nghiệp Việt Nam không? Tôi có thắc mắc liên quan tới tố tụng trọng tài mong được giải đáp. Doanh nghiệp tôi và doanh nghiệp A đều chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài và chúng tôi lựa chọn ngôn ngữ giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài giữa hai bên sẽ là tiếng Anh thì có được không? Mong sớm được phản hồi. Xin cảm ơn.
Nội dung chính
  1. Điều kiện nào được giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài?
  2. Tòa án nào có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài?
  3. Khi chọn Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thì có được sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt để giải quyết tranh chấp không?

Điều kiện nào được giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài?

Căn cứ theo Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về điều kiện được giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài cụ thể như sau:

Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt trong tố tụng trọng tài

Sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt trong tố tụng trọng tài

Tòa án nào có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài?

Tại Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định về Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài cụ thể như sau:

1. Trường hợp các bên đã có thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được các bên lựa chọn.

2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án thì thẩm quyền của Tòa án được xác định như sau:

- Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức. Trường hợp có nhiều bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn đó.

Trường hợp bị đơn có nơi cư trú hoặc trụ sở ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn;

- Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp;

- Đối với yêu cầu giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định;

- Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập;

- Đối với yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng;

- Đối với việc triệu tập người làm chứng thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi cư trú của người làm chứng;

- Đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài.

3. Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Khi chọn Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thì có được sử dụng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt để giải quyết tranh chấp không?

Tại Điều 10 của Luật Trọng tài thương mại 2010 có quy định:

Điều 10. Ngôn ngữ
1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định

Như vậy, các bên chỉ được thỏa thuận lựa chọn ngôn ngữ đối với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài và các bên đều là doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam thì ngôn ngữ được sử dụng ở đây phải là tiếng Việt (không được tự do lựa chọn).

Trên đây là một số quy định liên quan tới việc sử dụng ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài và một số thông tin liên quan tới trọng tài mà chúng tôi cung cấp gửi tới bạn. Trân trọng!

Xem thêm các bài viết liên quan đến:
Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Khánh Huyền Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thủ tục Tố tụng Xem thêm

Pháp luật
Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC trình tự, thủ tục tố tụng theo Nghị quyết 29 về xử lý vi phạm pháp luật đất đai ra sao?

Thông tư liên tịch 14/2026/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC Quy định trình tự, thủ tục tố tụng và quan hệ phối hợp trong giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố các vụ án vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội như sau:

Bài viết mới nhất