Bán vàng từ 5 triệu đồng trở lên có bắt buộc phải chuyển khoản không? Bán vàng từ 5 triệu đồng trở lên có được trả tiền mặt không?
Căn cứ theo khoản 10 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/10/2025) có quy định như sau:
Nguyên tắc quản lý
1. Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.
...
9. Các hoạt động kinh doanh vàng khác, trừ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng, hoạt động mua, bán vàng nguyên liệu trong nước của doanh nghiệp sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ và doanh nghiệp kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và các hoạt động quy định tại Khoản 6, 7, 8 Điều này, là hoạt động kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh. Tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép.
10. Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo quy định trên thì vẫn được mua vàng bằng tiền mặt nếu giá trị giao dịch của một khách hàng dưới 20 triệu đồng trong ngày.
Theo đó, mua bán vàng có tổng giá trị từ 20 triệu đồng trở lên trong cùng một ngày của một khách hàng thì bắt buộc phải thanh toán thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, ngưỡng bắt buộc theo pháp luật về quản lý vàng là 20 triệu đồng/ngày/khách hàng đối với hoạt động giao dịch mua vàng. Chưa có quy định nào bắt buộc giao dịch mua bán vàng từ 5 triệu đồng trở lên phải chuyển khoản hay trả tiền mặt.
Tuy nhiên, căn cứ Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP có quy định về hóa đơn trên 5 triệu không chuyển khoản như sau:
Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
a1) Khoản chi phí phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ tối đa không quá 200% tính trên chi phí thực tế cho hoạt động này (không bao gồm các khoản chi quy định tại khoản 3 Điều 10 của Nghị định này) phát sinh trong kỳ tính thuế tại doanh nghiệp;
a2) Việc xác định mức chi được trừ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển quy định tại điểm này phải đảm bảo sau khi áp dụng mức chi bổ sung, doanh nghiệp không bị lỗ;
a3) Việc xác định khoản chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển quy định tại điểm này thực hiện theo quy định của pháp luật về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo;
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...
Theo đó, khoản chi của doanh nghiệp được tính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế phải đáp ứng các điều kiện:
+ Có hóa đơn, chứng từ hợp pháp;
+ Liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh;
+ Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản chi từ 5 triệu đồng trở lên trong ngày.
Áp dụng vào hoạt động khi khách hàng bán vàng, doanh nghiệp mua vàng của khách hàng với giá trị từ 5 triệu đồng trở lên nếu thanh toán bằng tiền mặt thì khoản tiền này có thể không được tính là chi phí hợp lệ khi quyết toán thuế TNDN. Từ đó, doanh nghiệp có thể bị loại chi phí, tăng số thuế TNDN phải nộp, dẫn tới việc bị xử phạt vi phạm về thuế.
Như vậy, nhiều doanh nghiệp kinh doanh chủ động yêu cầu khách hàng chuyển khoản khi mua vàng từ 5 triệu đồng trở lên để đảm bảo chứng từ hợp lệ.

Bán vàng từ 5 triệu đồng trở lên có bắt buộc phải chuyển khoản không? Bán vàng từ 5 triệu đồng trở lên có được trả tiền mặt không? (Hình từ Internet)
Không chuyển khoản khi mua bán vàng từ 20 triệu đồng trở lên bị xử phạt bao nhiêu?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh vàng
1. Phạt cảnh cáo đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng;
b) Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
b) Sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán trong trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần;
c) Không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật.
...
Đồng thời, tại khoản 3 Điều 5 Nghị định 340/2025/NĐ-CP có quy định như sau:
Hình thức xử phạt, mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc xử phạt
...
3. Mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền:
a) Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân; mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân;
...
Theo đó, việc không chuyển khoản khi giao dịch vàng từ 20 triệu đồng trở lên là hành vi không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân.
Đối với tổ chức, có cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân tức là từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Doanh nghiệp mua bán vàng phải nộp thuế GTGT theo phương pháp nào?
Theo khoản 1 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định như sau:
Phương pháp tính trực tiếp
1. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng bằng giá trị gia tăng nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý.
Giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý được xác định bằng giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra trừ giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng.
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý thì cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.
2. Số thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp tính trực tiếp theo doanh thu bằng tỷ lệ % nhân với doanh thu áp dụng như sau:
a) Đối tượng áp dụng bao gồm:
a1) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có doanh thu hằng năm dưới mức ngưỡng doanh thu 01 tỷ đồng, trừ trường hợp tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này;
a2) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;
a3) Tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam có doanh thu phát sinh tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ, không bao gồm các nhà cung cấp nước ngoài quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật này;
a4) Tổ chức khác, trừ trường hợp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật này;
...
Vậy nên, theo quy định trên, doanh nghiệp mua bán vàng phải nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];