Đề xuất nâng mức tiền ăn trưa lên 1,8 triệu đồng/tháng có được chấp nhận không?
Ngày 27/03/2026, Bộ Tài chính đã công bố và lấy ý kiến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
Tải về Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân
Theo đó, tại điểm g khoản 2 Điều 8 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đề xuất quy định mức tiền ăn trưa trợ cấp cho người lao động tối da là 1.2 triệu/người.
Tuy nghiên, vừa qua, Bộ Tài chính đã đăng tải Công văn 7257/BTC-CST năm 2026 Tải về Bản giải trình, tiếp thu dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Theo đó, tại Công văn 7257/BTC-CST năm 2026 có ghi nhận Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI đã có Công văn số 398A/2026/CV-SSI.TGĐ ngày 03/4/2026 đề xuất đối với điểm e, điểm g khoản 2 Điều 8 Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân như sau:
(i) Bổ sung quy định về việc điều chỉnh các mức chặn trên tại khoản 2 Điều 8 theo tình hình kinh tế - xã hội, lạm phát hoặc theo các chỉ số giá tiêu dùng do Tổng cục Thống kê công bố để có cơ chế thay đổi cũng như phù hợp với thực tế chi tiêu của người lao động. (ii) Đề xuất nâng mức trần tiền ăn: + Nâng mức trần tiền ăn lên ít nhất 1.800.000 đồng/người/tháng để bắt kịp thực tế giá cả đô thị năm 2026. + Nâng mức trần hoặc áp dụng cơ chế điều chỉnh mức trần tự động theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) định kỳ 2 năm một lần, tránh tình trạng quy định lạc hậu nhanh như lịch sử các mức trần trước đây. (iii) Đề nghị làm rõ trong trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động theo quy định tại câu cuối của g khoản 2 Điều 8 thì có bị phụ thuộc hạn mức 1,2 triệu đồng/người/tháng không và có được áp dụng cả hai hình thức này không? (iv) Trong trường hợp Công ty áp dụng cả 2 hình thức thì thu nhập tính thuế được quy định như thế nào? Lý do: - Bổ sung cơ chế điều chỉnh theo tình hình kinh tế, lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng. Tránh lạc hậu sau vài năm và tăng tính linh hoạt, phù hợp thực tế chi tiêu người lao động. - Mức trần 1,2 triệu đồng/tháng chưa phản ánh thực tế chi phí ăn uống tại các đô thị lớn năm 2026. Tại Hà Nội và TP.HCM, suất ăn văn phòng phổ biến hiện ở mức 50.000-80.000 đồng/ngày, tương đương 1.100.000 -1.760.000 đồng/tháng (22 ngày làm việc). Với mức 1.200.000 đồng nhiều doanh nghiệp dù chi tiền ăn ở mức tối thiểu cũng đã vượt ngưỡng và phải tính thuế, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp lẫn người lao động. |
Theo đó, với đề xuất trên Bộ Tài chính đã có ý kiến như sau:
Cơ quan soạn thảo đề nghị giữ nguyên nội dung như tại dự thảo Nghị định, lý do: Việc quy định khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1.200.000 đồng/người/tháng mới tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân được tính toán căn cứ sự biến động chi tiêu bình quân, thu nhập bình quân bình quân xã hội và biến động của chỉ số CPI và có tính đến dự báo cho một số năm tiếp theo. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân như hiện hành (được miễn thuế). |
Như vậy, đề xuất nâng mức tiền ăn trưa lên 1,8 triệu đồng/tháng hiện nay chưa được tiếp thu sửa đổi. Thay vào đó, Bộ Tài chính vẫn giữ nguyên mức tiền ăn trưa trợ cấp cho người lao động tối da là 1.2 triệu/người theo dự thảo Nghị định.

Đề xuất nâng mức tiền ăn trưa lên 1,8 triệu đồng/tháng có được chấp nhận không? (Hình từ Internet)
Tiền phụ cấp ăn trưa phải đóng bảo hiểm xã hội khi nào?
Căn cứ theo Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về căn cứ đóng bảo hiểm xã hội như sau:
Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
...
b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
...
Theo quy định trên, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng bao gồm: mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương
Mặt khác, tại khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH có quy định các khoản tiền phụ cấp ăn trưa phải được ghi thành một mục riêng trong hợp đồng lao động.
Như vậy, nếu như khoản tiền phụ cấp ăn trưa được quy định thành mục riêng trong hợp đồng lao động, không nằm trong tiền lương thì sẽ không phải đóng bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, nếu tiền ăn trưa được xem là tiền lương tháng được ghi trong hợp đồng lao động thì phải đóng BHXH.
Các khoản phụ cấp, trợ cấp nào được miễn thuế TNCN theo quy định mới nhất?
Theo Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định về thu nhập chịu thuế như sau:
Thu nhập chịu thuế
Thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này:
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội;
...
Như vậy, các khoản phụ cấp, trợ cấp được miễn thuế TNCN từ tiền lương tiền, công bao gồm:
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật.
- Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
- Trợ cấp do suy giảm khả năng lao động.
- Trợ cấp hưu trí một lần.
- Tiền tuất hàng tháng.
- Trợ cấp thôi việc.
- Trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động 2019.
- Các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội.
Lưu ý: Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, trừ những quy định liên quan đến tiền lương, tiền công sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];