Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không?

Nguyễn Trần Cao Kỵ 6,794 lượt xem
08:50 | 11/08/2026
Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không?
Nội dung chính
  1. Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không?
  2. Lao động thử việc có được trừ tiền ăn trưa, điện thoại trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN không?
  3. Tiền ăn trưa, phụ cấp đi lại, xăng xe được miễn đóng BHXH khi nào?

Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không?

Đầu tiên, tại điểm g khoản 2 Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về mức trần tiền ăn trưa như sau:

Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân bao gồm:
...
2. Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà cá nhân nhận được từ tổ chức, cá nhân, bao gồm cả người sử dụng lao động chỉ trả dưới mọi hình thức:
...
g) Khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi cho người lao động vượt quá 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trường hợp người sử dụng lao động tổ chức bữa ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động dưới các hình thức như trực tiếp nấu ăn, mua suất ăn, cấp phiếu ăn thì không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân;
...

Đồng thời tại Điều 69 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về hiệu lực thi hành đối với mức trần tiền ăn trưa như sau:

Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Việc xác định thời gian áp dụng trong một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026;
b) Quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa quy định tại điểm g khoản 2 Điều 8 của Nghị định này áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
...

Như vậy, đối với các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2026.

Tuy nhiên, đối với quy định về mức trần tiền ăn trưa 1,2 triệu/tháng được miễn đóng thuế TNCN áp dụng từ ngày 01/7/2026 theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mức 1.200.000 đồng/người/tháng nêu trên chỉ là mức tối đa được miễn thuế TNCN đối với khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa do người sử dụng lao động chi trả bằng tiền cho người lao động.

Nghị định 253/2026/NĐ-CP không quy định doanh nghiệp bắt buộc phải chi tiền ăn giữa ca, ăn trưa ở mức 1.200.000 đồng/người/tháng. Việc doanh nghiệp có tổ chức bữa ăn giữa ca, hỗ trợ tiền ăn hay quy định mức hỗ trợ cụ thể bao nhiêu sẽ do doanh nghiệp quyết định căn cứ vào điều kiện sản xuất, kinh doanh, khả năng tài chính, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động hoặc thỏa thuận với người lao động.

Do đó, doanh nghiệp có thể chi trả tiền ăn giữa ca, ăn trưa ở mức thấp hơn hoặc bằng 1.200.000 đồng/người/tháng mà vẫn được miễn thuế TNCN đối với toàn bộ khoản tiền được chi trả.

Trường hợp doanh nghiệp chi trả vượt mức 1.200.000 đồng/người/tháng thì phần vượt trên 1.200.000 đồng/người/tháng sẽ phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động theo quy định pháp luật.

Từ những căn cứ trên, có thể thấy, mức 1.200.000 đồng/người/tháng là mức trần được miễn thuế TNCN đối với khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa chi bằng tiền, không phải mức doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng. Doanh nghiệp được quyền quyết định mức hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế của mình; chỉ khi chi vượt 1.200.000 đồng/người/tháng thì phần vượt mới phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.

Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không?

Mức trần 1.200.000 đồng tiền ăn trưa, ăn ca được miễn thuế TNCN từ 01/7/2026, doanh nghiệp có bắt buộc áp dụng mức này không? (Hình từ Internet)

Lao động thử việc có được trừ tiền ăn trưa, điện thoại trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN không?

Căn cứ khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế như sau:

Khấu trừ thuế
...
2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
...

Có thể thấy, người lao động không ký hợp đồng lao động có thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

Đồng thời, tham khảo Công văn 10049/NBI-QLDN1 năm 2026 Tải về hướng dẫn khấu trừ thuế TNCN 10% như sau:

Về khoản thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10%: Công ty thực hiện khấu trừ 10% trên khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc diện chịu thuế trước khi trả cho cá nhân. Các khoản thu nhập được miễn thuế theo quy định, trong đó có tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ và tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép trong phạm vi điều kiện, thời gian và mức theo pháp luật lao động, không tính vào khoản thu nhập chịu khấu trừ, phần vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế. Các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác là căn cứ xác định thu nhập tính thuế khi áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần hoặc khi quyết toán thuế, không trừ khi thực hiện khấu trừ tạm thời theo tỷ lệ 10% quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/ND-CP.

Theo hướng dẫn trên, thu nhập trước khi trả cho cá nhân là thu nhập chịu thuế TNCN.

Mà tiền ăn trưa và tiền điện thoại sẽ được loại trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN nếu đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Như vậy, từ những quy định trên, lao động thử việc sẽ được trừ tiền ăn trưa, điện thoại trước khi khấu trừ 10% thuế TNCN nếu có thu nhập trên 5 triệu.

Tiền ăn trưa, phụ cấp đi lại, xăng xe được miễn đóng BHXH khi nào?

Căn cứ tại điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, như sau:

Căn cứ đóng bảo hiểm xã hội
1. Tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được quy định như sau:
a) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề, hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có);
b) Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Trường hợp người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc;
...

Theo đó, tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc bao gồm: mức lương theo công việc hoặc chức danh, các khoản phụ cấp lương và những khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Đồng thời, tiết c2 điểm c khoản 5 Điều 3 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH hướng dẫn:

Nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động
...
5. Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được quy định như sau:
...
c) Các khoản bổ sung khác theo thỏa thuận của hai bên như sau:
...
c2) Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động.
Đối với các chế độ và phúc lợi khác như thưởng theo quy định tại Điều 104 của Bộ luật Lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác thì ghi thành mục riêng trong hợp đồng lao động.
...

Từ các quy định nêu trên, những khoản như tiền ăn trưa và phụ cấp đi lại, xăng xe,… nếu được ghi nhận là các khoản bổ sung khác trong hợp đồng lao động và không tính vào tiền lương hoặc doanh nghiệp ban hành một quy chế riêng về các khoản bổ sung nêu trên tách biệt với tiền lương của người lao động thì không thuộc căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, nếu tiền ăn trưa, xăng xe, điện thoại được xem là tiền lương tháng được ghi trong hợp đồng lao động thì phải đóng BHXH.

Nguyễn Trần Cao Kỵ
Nguyễn Trần Cao Kỵ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Thuế Thu Nhập Cá Nhân Xem thêm

Bài viết mới nhất