Công văn 9494/BTC-CT về việc đẩy mạnh liên thông điện tử TTHC về đất đai giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký đất đai?
Ngày 6/7/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn 9494/BTC-CT năm 2026 về việc đẩy mạnh liên thông điện tử thủ tục hành chính về đất đai giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký đất đai, cụ thể như sau:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, trong thời gian qua Bộ Tài chính đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đáp ứng việc tiếp nhận và xử lý toàn trình các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế.
Đối với các thủ tục liên quan trong lĩnh vực đất đai, từ năm 2015, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo Quy chế 1955/QCРH-ТСТ-ТСCQLĐĐ trong việc trao đổi thông tin theo hình thức điện tử để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai (đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2026 tại Quy chế 01/QCPH-CT-CQLĐĐ nhằm mở rộng phạm vi và nội dung triển khai).
Đến nay đã có 34/34 tỉnh, thành phố triển khai kết nối liên thông điện tử giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký đất đai, tuy nhiên vẫn còn tỷ lệ 15% hồ sơ chưa thực hiện truyền nhận theo phương thức điện tử.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong việc thực hiện với ngân sách nhà nước đồng thời nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong quản lý các khoản thu từ đất, Bộ Tài chính kính đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quan tâm chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Văn phòng Đăng ký đất đai, Trung tâm phục vụ hành chính công và các cơ quan liên quan về một số nội dung như sau:
- Tham mưu UBND cấp tỉnh ban hành trình tự, thủ tục hành chính về đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 49/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
- Triển khai triệt để việc kết nối trao đổi thông tin, xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai, theo đó:
+ 100% hồ sơ được truyền nhận theo phương thức điện từ;
+ Phiếu chuyển phải đầy đủ thông tin để cơ quan thuế có đủ căn cứ xác định nghĩa vụ tài chính, không yêu cầu chuyển các hồ sơ kèm theo;
+ Căn cứ trạng thái hoàn thành nghĩa vụ tài chính tại cơ sở dữ liệu được liên thông để xác nhận và xử lý các thủ tục về đất đai cho người dân, doanh nghiệp;
+ Cung cấp dữ liệu và phối hợp với cơ quan thuế để rà soát, chuẩn hóa dữ liệu đất đai.
- Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai theo cơ chế một cửa liên thông, không yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải nộp các thành phần hồ sơ không có trong Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính của các Bộ, ngành, địa phương đã được công bố.
- Tuyên truyền, thông báo cho người dân, doanh nghiệp biết về việc triển khai tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông theo phương thức điện tử, đồng thời phối hợp với cơ quan thuế hướng dẫn, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tra cứu các thông báo và thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính hoặc ứng dụng eTax Mobile nhằm ghi nhận nghĩa vụ kịp thời, chính xác.
<<<Tải về Công văn 9494/BTC-CT năm 2026>>>

Công văn 9494/BTC-CT về việc đẩy mạnh liên thông điện tử TTHC về đất đai giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký đất đai? (Hình từ Internet)
Người sử dụng đất hiện nay phải đóng thuế các loại thuế đất nào?
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Đất đai 2024 quy định về phân loại đất như sau:
Phân loại đất
1. Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại bao gồm nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng.
...
Đồng thời, tại Điều 1 Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp 1993 quy định:
Điều 1
Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp đều phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế).
Hộ được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng vẫn phải nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Bên cạnh đó, theo Điều 4 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2010 quy định về người nộp thuế như sau:
Người nộp thuế
1. Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế.
3. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:
a) Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất ở là người nộp thuế;
b) Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thỏa thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;
c) Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;
d) Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;
đ) Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này thì pháp nhân mới là người nộp thuế.
Như vậy, theo những quy định trên, người sử dụng đất hiện nay phải đóng thuế cho loại đất sau:
- Đất nông nghiệp
- Đất phi nông nghiệp
Cơ quan thuế có nghĩa vụ tính và ra thông báo tiền sử dụng đất phải nộp đúng không?
Căn cứ khoản 3 Điều 21 Nghị định 103/2024/NĐ-CP quy định như sau:
Trình tự tính, thu, nộp tiền sử dụng đất
...
3. Văn phòng đăng ký đất đai hoặc cơ quan có chức năng quản lý đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu và các thông tin cung cấp cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế chịu trách nhiệm về việc tính và ra thông báo tiền sử dụng đất phải nộp.
4. Thời hạn nộp tiền sử dụng đất đối với trường hợp tính tiền sử dụng đất theo giá đất cụ thể hoặc giá đất trúng đấu giá quyền sử dụng đất:
...
Như vậy, theo quy định trên thì cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc tính và ra thông báo tiền sử dụng đất phải nộp.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];