Công văn 5259/BHXH-QLT về chuyển đổi sử dụng số ĐDCN/CCCD thay thế mã số BHXH như thế nào?
Ngày 17/08/2026, BHXH TP Hà Nội đã có Công văn 5259/BHXH-QLT năm 2026 về việc chuyển đổi sử dụng số ĐDCN/CCCD thay thế mã số bảo hiểm xã hội, bộ mã quản lý trên các phần mềm nghiệp vụ của BHXH Việt Nam.
>> Tải về Công văn 5259/BHXH-QLT năm 2026
Thực hiện Kế hoạch 3115/KH-BHXH năm 2026 của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam về việc chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân (ĐDCN/CCCD) thay thế mã số BHXH, bộ mã quản lý trên các phần mềm nghiệp vụ của BHXH Việt Nam; Công văn 1804/BHXH-QLT năm 2025 của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam về việc sử dụng số ĐDCN/CCCD thay thế mã số BHXH và bộ mã quản lý.
Để triển khai thống nhất việc sử dụng số ĐDCN/CCCD thay thế mã số BHXH, bộ mã quản lý trên các phầm mềm nghiệp vụ của BHXH Việt Nam theo chủ trương của Chính phủ về phát triển dữ liệu số và đảm bảo quyền lợi cho người tham gia và người đang thụ hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), BHXH thành phố Hà Nội đề nghị các Đơn vị sử dụng lao động; Cơ quan quản lý người chỉ tham gia BHYT; Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng (sau đây gọi chung là đơn vị) và người đang tham gia, thụ hưởng các chính sách BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn thành phố Hà Nội phối hợp triển khai thực hiện một số nội dung cụ thể như sau:
(1) Đối với các đơn vị
- Phối hợp với cơ quan BHXH nơi đang tham gia BHXH, BHYT, BHTN kiểm tra, rà soát bổ sung các thông tin (nếu chưa đầy đủ) về mã số doanh nghiệp, mã quan hệ ngân sách của đơn vị, mã loại hình sản xuất kinh doanh, tên viết tắt của tổ chức thu hộ, mã đơn vị hành chính (02 ký tự là mã đơn vị hành chính cấp tỉnh, 05 ký tự là mã đơn vị hành chính cấp xã), mã điểm thu,… để làm cơ sở cập nhật bộ mã đơn vị tham gia BHXH, BHYT, BHTN.
- Kiểm tra, rà soát số ĐDCN/CCCD của các lao động, người tham gia thuộc đơn vị quản lý, phối hợp với cơ quan BHXH nơi đang tham gia BHXH, BHYT, BHTN bổ sung, cập nhật số ĐDCN/CCCD đối với các trường hợp chưa có số ĐDCN/CCCD trong cơ sở dữ liệu về BHXH hoặc chưa được xác thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
- Lập hồ sơ điều chỉnh thông tin người tham gia BHXH, BHYT gửi cơ quan BHXH để cập nhật theo đúng quy định (đối với các trường hợp thông tin người tham gia BHXH, BHYT còn sai lệch thông tin nếu có).
(2) Đối với người tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Phối hợp với cơ quan BHXH nơi đang tham gia, hưởng các chế độ BHXH, BHYT, BHTN để kiểm tra, bổ sung các thông tin về số ĐDCN/CCCD khi có đề nghị của cơ quan BHXH.
(3) Thời gian dự kiến triển khai
- Giai đoạn 1: Chuẩn hóa dữ liệu từ ngày 15/8/2026 đến trước ngày 01/9/2026
- Giai đoạn 2: Chuyển đổi dữ liệu và vận hành bắt đầu từ ngày 01/9/2026.

Công văn 5259/BHXH-QLT về chuyển đổi sử dụng số ĐDCN/CCCD thay thế mã số BHXH như thế nào? (Hình từ Internet)
Sổ BHXH điện tử chính thức thay thế sổ BHXH bản giấy từ khi nào?
Căn cứ Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về sổ bảo hiểm xã hội như sau:
Sổ bảo hiểm xã hội
1. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp cho từng người lao động, trong đó chứa đựng thông tin cơ bản về nhân thân, ghi nhận việc đóng, hưởng, giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội và các thông tin cần thiết khác có liên quan.
2. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp bằng bản điện tử, bản giấy và có giá trị pháp lý như nhau.
Chậm nhất là ngày 01 tháng 01 năm 2026, thực hiện cấp sổ bảo hiểm xã hội bằng bản điện tử; sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy được cấp khi người tham gia bảo hiểm xã hội yêu cầu.
3. Dữ liệu về sổ bảo hiểm xã hội được cập nhật chính xác, kịp thời, đối chiếu thông tin và quản lý theo quy định.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này
Đồng thời, theo khoản 5 Điều 8 Nghị định 164/2025/NĐ-CP quy định về sổ bảo hiểm xã hội như sau:
Sổ bảo hiểm xã hội
1. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp cho từng người lao động, mỗi người chỉ được cấp duy nhất một mã số bảo hiểm xã hội và chứa đựng thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Bảo hiểm xã hội.
2. Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử là sổ bảo hiểm xã hội được Bộ Tài chính tạo lập bằng phương tiện điện tử, chứa đựng thông tin như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.
3. Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tích hợp với tài khoản định danh điện tử của cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội và lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tài chính, Cổng Dịch vụ công quốc gia sau khi cá nhân, tổ chức thực hiện thành công giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
4. Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử đối với đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có các thông tin như sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy; do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tạo lập, tích hợp, quản lý trên Tài khoản định danh điện tử theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an và bảo đảm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.
5. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp bằng bản điện tử được cấp chậm nhất là ngày 01 tháng 01 năm 2026 và có giá trị pháp lý như sổ bảo hiểm xã hội bằng bản giấy.
Căn cứ theo Điều 3 Thông tư 09/2026/TT-BTC quy định sổ BHXH điện tử như sau:
Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử
1. Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 164/2025/NĐ-CP do cơ quan bảo hiểm xã hội tạo lập bằng phương tiện điện tử từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất; được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản định danh điện tử (VNeID) mức độ 2, tài khoản bảo hiểm xã hội số (VssID).
2. Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử chứa đựng thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.
Như vậy, theo quy định từ 01/01/2026 sổ BHXH điện tử chính thức thay thế sổ BHXH bản giấy. Tuy nhiên, sổ BHXH bản giấy vẫn được cấp khi người tham gia BHXH yêu cầu.
Định kỳ bao lâu thì kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 116 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định về quỹ bảo hiểm xã hội như sau:
Quỹ bảo hiểm xã hội
1. Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước; được hạch toán, kế toán, lập báo cáo tài chính, kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật về kế toán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Định kỳ 03 năm, Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội, hoạt động đầu tư quỹ và báo cáo kết quả với Quốc hội. Theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ, quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.
Trường hợp tiến hành hoạt động thanh tra, hoạt động kiểm toán nhà nước về bảo hiểm xã hội, nếu phát hiện chồng chéo, trùng lặp, cơ quan thanh tra phối hợp với cơ quan kiểm toán nhà nước xử lý theo quy định của Luật Thanh tra và Luật Kiểm toán nhà nước, bảo đảm một nội dung hoạt động của tổ chức, cá nhân chỉ là đối tượng của một cơ quan thanh tra hoặc một cơ quan kiểm toán nhà nước; bảo đảm phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Như vậy, theo quy định Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán quỹ bảo hiểm xã hội định kỳ 03 năm/lần.
Trường hợp Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ yêu cầu thì quỹ bảo hiểm xã hội được kiểm toán đột xuất.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];