Viên chức không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không thuộc đối tượng được tinh giản biên chế đúng không?
Ngày 21/7/2026, Bộ Nội vụ đã ban hành Công văn 7851/BNV-TCBC hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP quy định về tinh giản biên chế.
Tải về >> Công văn 7851/BNV-TCBC năm 2026
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 26 Luật Viên chức 2025 và khoản 1 Điều 51 Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (đều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026) thì viên chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ vì lý do chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm thuộc đối tượng giải quyết thôi việc và giải quyết chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 53 Nghị định 259/2026/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với viên chức thôi việc.
Căn cứ quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 thì trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.
Do đó, trường hợp viên chức bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ vì lý do chuyên môn, nghiệp vụ hoặc không đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm thuộc đối tượng áp dụng chính sách quy định tại Luật Viên chức 2025 và Nghị định 259/2026/NĐ-CP, không thuộc đối tượng áp dụng chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

Viên chức không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không thuộc đối tượng được tinh giản biên chế đúng không? (Hình từ Internet)
Viên chức bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ nếu thuộc trường hợp nào?
Theo khoản 4 Điều 12 Nghị định 233/2026/NĐ-CP, viên chức bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ nếu thuộc một trong những trường hợp sau:
- Có kết quả theo dõi, đánh giá của năm dưới 50 điểm;
- Bị cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi công tác;
- Có hành vi vi phạm liên quan đến thực hiện nhiệm vụ bị kỷ luật bằng hình thức từ khiển trách trở lên trong năm đánh giá;
- Tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp liên quan đến tham ô, tham nhũng, lãng phí và bị xử lý theo quy định của pháp luật (đối với viên chức quản lý).
Trường hợp cá nhân viên chức quản lý đã chủ động phát hiện, báo cáo và chỉ đạo xử lý kịp thời, khắc phục xong hậu quả thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào hoàn cảnh, tính chất, hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại bảo đảm khách quan, thận trọng, toàn diện và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.
Thời điểm xếp loại chất lượng viên chức là khi nào?
Theo Điều 15 Nghị định 233/2026/NĐ-CP, thời điểm xếp loại chất lượng viên chức được tiến hành trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, trước khi thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên và tổng kết công tác bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tính chất đặc thù theo chức năng, nhiệm vụ quy định chưa tổng kết vào dịp cuối năm thì cấp trên trực tiếp có thẩm quyền quy định, hướng dẫn thực hiện hoàn thành trước ngày 15 tháng 01 năm sau.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];