Sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có thể làm tư vấn viên pháp luật không?

Nguyễn Thị Kim Linh 191 lượt xem
14:00 | 21/05/2024
Anh chị cho em hỏi: là sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có được làm tư vấn viên pháp luật không ạ? Em xin cảm ơn. Câu hỏi của bạn Thái đến từ Bình Thuận.
Nội dung chính
  1. Sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có thể làm tư vấn viên pháp luật không?
  2. Các hành vi bị nghiêm cấm đối với tư vấn viên pháp luật là gì?
  3. Tư vấn viên pháp luật có phải bồi hoàn thiệt hại khi gây ra lỗi trong quá trình thực hiện tư vấn không?

Sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có thể làm tư vấn viên pháp luật không?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 77/2008/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 19. Tư vấn viên pháp luật
1. Tư vấn viên pháp luật là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích;
b) Có Bằng cử nhân luật;
c) Có thời gian công tác pháp luật từ ba năm trở lên.
2. Tư vấn viên pháp luật được cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật. Tư vấn viên pháp luật được hoạt động trong phạm vi toàn quốc.
Công chức đang làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân không được cấp Thẻ tư vấn viên pháp luật.

Theo đó, sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có thể trở thành tư vấn viên pháp luật nếu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn dưới đây:

- Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam.

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt.

- Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích.

- Có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên.

https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/Hoidapphapluat/2024/NTKL/20052024/tu-van-vien.jpg

Sinh viên tốt nghiệp cử nhân luật có thể làm tư vấn viên pháp luật không? (Hình từ Internet)

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với tư vấn viên pháp luật là gì?

Căn cứ theo Điều 18 Nghị định 77/2008/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 18. Người thực hiện tư vấn pháp luật
Người thực hiện tư vấn pháp luật bao gồm:
1. Tư vấn viên pháp luật;
2. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động cho Trung tâm tư vấn pháp luật;
3. Cộng tác viên tư vấn pháp luật.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 77/2008/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm tổ chức tư vấn pháp luật, người thực hiện tư vấn pháp luật thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật;
b) Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật để trục lợi;
c) Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức;
d) Tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc, tiết lộ thông tin về vụ việc, về cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tư vấn pháp luật thực hiện các hành vi sau đây:
a) Xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người thực hiện tư vấn pháp luật;
b) Cố tình cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật về vụ việc;
c) Cản trở hoạt động tư vấn pháp luật.

Như vậy, các hành vi bị nghiêm cấm đối với tư vấn viên pháp luật đó là:

- Xúi giục cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trái pháp luật.

- Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật để trục lợi.

- Lợi dụng hoạt động tư vấn pháp luật gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

- Tư vấn pháp luật cho các bên có quyền lợi đối lập trong cùng một vụ việc, tiết lộ thông tin về vụ việc, về cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật, trừ trường hợp cá nhân, tổ chức yêu cầu tư vấn pháp luật đồng ý hoặc pháp luật có quy định khác.

Tư vấn viên pháp luật có phải bồi hoàn thiệt hại khi gây ra lỗi trong quá trình thực hiện tư vấn không?

Căn cứ theo khoản 6 Điều 23 Nghị định 77/2008/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 23. Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện tư vấn pháp luật
1. Thực hiện tư vấn pháp luật trong phạm vi hoạt động của Trung tâm tư vấn pháp luật, Chi nhánh nơi mình làm việc.
2. Được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được hưởng thù lao từ việc thực hiện tư vấn pháp luật.
4. Chịu trách nhiệm về nội dung tư vấn do mình thực hiện.
5. Tuân thủ các quy định của tổ chức chủ quản, quy định của Nghị định này và các quy định khác có liên quan của pháp luật về luật sư, trợ giúp pháp lý.
6. Bồi hoàn thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện tư vấn pháp luật.

Theo quy định trên, khi tư vấn viên pháp luật gây ra lỗi trong quá trình thực hiện tư vấn thì phải có nghĩa vụ bồi hoàn thiệt hại đó.

Trân trọng!

Nguyễn Thị Kim Linh
Nguyễn Thị Kim Linh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Dịch vụ pháp lý Xem thêm

Bài viết mới nhất