Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?

Phan Vũ Hiền Mai 218 lượt xem
13:53 | 03/11/2025
Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?
Nội dung chính
  1. Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?
  2. Ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được sử dụng cho nội dung nào?
  3. Cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền gì?

Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?

Căn cứ Tiểu mục 1 Mục 2 Nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 quy định mục tiêu:

II- MỤC TIÊU
1. Đến năm 2030
[...]
- Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo. Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.
[...]

Như vậy, mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt 12 người /1 vạn dân

* Trên đây là thông tin về Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?

Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào?

Nghị quyết 57 đặt mục tiêu về nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đến năm 2030 đạt mức nào? (Hình từ Internet)

Ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được sử dụng cho nội dung nào?

Căn cứ Điều 62 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 quy định ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được sử dụng cho nội dung sau:

- Chi đầu tư phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

- Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tuyển chọn, giao trực tiếp, tài trợ thực hiện;

- Chi cho hoạt động hỗ trợ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật; đăng ký, bảo hộ, quản lý, khai thác quyền sở hữu trí tuệ;

- Chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên của tổ chức khoa học và công nghệ công lập;

- Chi thực hiện nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập ngoài phạm vi dự toán thường xuyên quy định tại điểm d khoản này;

- Chi hoạt động quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

- Chi thực hiện chính sách hỗ trợ thu hút, sử dụng, đãi ngộ cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

- Chi cấp vốn điều lệ cho các quỹ đầu tư mạo hiểm; chi quản lý và hoạt động theo chức năng của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

- Chi cho hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;

- Nội dung chi khác.

Cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền gì?

Căn cứ Điều 51 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 quy định cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền sau:

- Tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Được cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác giao nhiệm vụ, trang bị phương tiện và tạo điều kiện làm việc phù hợp.

- Được tham gia tư vấn, đề xuất ý kiến về chính sách, pháp luật, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Hợp tác với tổ chức, cá nhân khác để hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, ký kết hợp đồng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Được tiếp cận thông tin, cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Được tham gia tổ chức có hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; được tham gia hội, hiệp hội khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Được tham gia hoạt động đào tạo, tư vấn, hội nghị, hội thảo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; tham gia hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Được xét công nhận, bổ nhiệm vào chức danh khoa học, chức danh công nghệ theo quy định

- Được khen thưởng, hưởng quyền lợi, quyền ưu đãi, hỗ trợ theo quy định

Phan Vũ Hiền Mai
Phan Vũ Hiền Mai Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Bài viết mới nhất