Hướng dẫn cách góp ý, phản ánh và vướng mắc trên ứng dụng VneID chi tiết ra sao?
Dưới đây là hướng dẫn cách góp ý, phản ánh và vướng mắc trên ứng dụng VneID
Bước 1: Đăng nhập ứng dụng VNeID trên điện thoại

Bước 2: Chọn mục "Dịch vụ khác" tại màn hình chính

Bước 3: Chọn "Tiếp nhân góp ý, phản ánh và vướng mắc"

Bước 4: Chọn mục "Tiếp nhân góp ý, phản ánh và vướng mắc"
(1) Kiến nghị, phản ánh về ANTT
(2) Kiến nghị, phản ánh ANTT tại Trạm Cảnh Sát (Kiosk)
(3) Kiến nghị, phản ánh về kiểm tra, giám sát của Đảng
(4) Phản ánh khó khăn, vướng mắc

Ví dụ: Chọn mục (1) Kiến nghị, phản ánh về ANTT thực hiện như sau:

- Tạo yêu cầu mới

- Điền thông tin cá nhân người kiến nghị

- Điền thông tin vụ việc phản ánh, địa điểm xảy ra vụ việc (kèm minh chứng hình ảnh nếu có). Sau đó bấm tiếp tục, sau đó hệ thống chuyển sang màn hình xác nhận, người kiến nghị xác nhận thông tin phản ánh và gửi thành công

>>> Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được giải đáp
*Trên đây là thông tin tham khảo

Hướng dẫn cách góp ý, phản ánh và vướng mắc trên ứng dụng VneID chi tiết ra sao? (Hình từ Internet)
Quy định về phân loại, đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử như thế nào?
Căn cứ Điều 7 Nghị định 69/2024/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 3 Nghị định 320/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 28/09/2026) quy định về phân loại, đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử như sau:
- Công dân Việt Nam từ đủ 06 tuổi trở lên đã được cấp thẻ căn cước công dân hoặc thẻ căn cước còn thời hạn sử dụng được cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 01, tài khoản định danh điện tử mức độ 02 khi có nhu cầu. Công dân Việt Nam dưới 06 tuổi đã được cấp thẻ căn cước được cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 01 khi có nhu cầu.
- Người nước ngoài nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam hoặc cư trú hợp pháp tại Việt Nam được cấp tài khoản định danh điện tử không phân biệt theo mức độ khi có nhu cầu.
- Cơ quan, tổ chức được thành lập hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam được cấp tài khoản định danh điện tử không phân biệt theo mức độ khi có nhu cầu
Quy định về cập nhật thông tin vào hệ thống định danh và xác thực điện tử như thế nào?
Theo Điều 8 Nghị định 69/2024/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 320/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 28/09/2026) quy định về cập nhật thông tin vào hệ thống định danh và xác thực điện tử như sau:
(1) Các giấy tờ không thuộc bí mật nhà nước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự động đồng bộ, cập nhật vào hệ thống định danh và xác thực điện tử khi cơ quan, tổ chức đó có cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử.
Khi thông tin, giấy tờ trên Ứng dụng định danh quốc gia có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ phải thực hiện cập nhật ngay thông tin, giấy tờ. Trường hợp khách quan chưa thể thực hiện tại thời điểm phát sinh thay đổi thì thời gian cập nhật trên Ứng dụng định danh quốc gia không quá 24 giờ kể từ thời điểm phát sinh dữ liệu cập nhật và không quá 05 phút trong trường hợp công dân có yêu cầu cập nhật trực tiếp trên Ứng dụng định danh quốc gia.
(2) Việc tích hợp thông tin, giấy tờ trong trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ chưa có cơ sở dữ liệu được thực hiện như sau:
- Chủ thể danh tính điện tử gửi yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ đến hệ thống định danh và xác thực điện tử thông qua Ứng dụng định danh quốc gia
- Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày hệ thống định danh và xác thực điện tử nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện truy cập hệ thống định danh và xác thực điện tử bằng tài khoản định danh điện tử của cơ quan, tổ chức đó để tiếp nhận, xử lý, phê duyệt yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ của chủ thể danh tính điện tử theo hướng dẫn của Bộ Công an
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện cập nhật thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia đồng thời với việc phê duyệt điều chỉnh thông tin, giấy tờ đó.
(3) Cơ quan quản lý, vận hành hệ thống định danh và xác thực điện tử tích hợp giấy tờ lên Ứng dụng định danh quốc gia theo yêu cầu của chủ thể danh tính điện tử để phục vụ việc chia sẻ, khai thác, sử dụng trên môi trường điện tử.
(4) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.
(5) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin, giấy tờ của mình trong hệ thống định danh và xác thực điện tử.
(6) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 8 Nghị định 69/2024/NĐ-CP khi khai thác thông tin, giấy tờ của tổ chức, cá nhân khác trong hệ thống định danh và xác thực điện tử qua Ứng dụng định danh quốc gia phải được sự đồng ý của chủ thể thông tin, giấy tờ được khai thác. Trường hợp khai thác thông tin, giấy tờ của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự, người dưới 14 tuổi, người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của một trong những người đại diện hợp pháp, người thừa kế theo quy định pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];