Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320 hay không?

Ngô Diễm Quỳnh 110 lượt xem
14:00 | 22/09/2026
Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320 hay không?
Nội dung chính
  1. Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320/2026 hay không?
  2. Thời hạn tài khoản giao dịch điện tử trên mạng xã hội phải liên kết tài khoản VNeID là khi nào?
  3. Quy định về cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử theo quy định như thế nào?

Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320/2026 hay không?

Căn cứ tại khoản 9 Điều 40 Nghị định 69/2024/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 19 Nghị định 320/2026/NĐ-CP quy định như sau:

Điều 40. Hiệu lực thi hành
[...]
9. Tài khoản giao dịch điện tử theo Luật Giao dịch điện tử trên các nền tảng số phục vụ hoạt động thuộc lĩnh vực giáo dục, bình dân học vụ số, chứng khoán, viễn thông, ngân hàng, thương mại điện tử (người bán, người livestream bán hàng và người tiếp thị liên kết theo quy định của Luật Thương mại điện tử), hóa đơn điện tử, kinh doanh vận tải, kinh doanh du lịch, kinh doanh dược, khám bệnh, chữa bệnh, mạng xã hội tại Việt Nam phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử. Các tài khoản giao dịch điện tử trên các nền tảng số phục vụ hoạt động quốc phòng, an ninh, dịch vụ xuyên biên giới thực hiện liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử trước khi sử dụng khi các nền tảng số đáp ứng đủ điều kiện và được kết nối với nền tảng định danh và xác thực điện tử.
10. Đối với các lĩnh vực khác ngoài quy định tại khoản 9 Điều này, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành danh mục cụ thể các giao dịch trực tuyến trên các lĩnh vực bắt buộc liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử trước khi sử dụng.
[...]

Bên cạnh đó theo Điều 46 Luật Giao dịch điện tử 2023 được sửa đổi bởi điểm c khoản 8 Điều 43 Luật An ninh mạng 2025 có quy định về tải khoản giao dịch điện tử như sau:

Điều 46. Tài khoản giao dịch điện tử
1. Tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật này.
2. Tài khoản giao dịch điện tử được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, nhằm lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản, có giá trị chứng minh lịch sử giao dịch của các bên tham gia theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng tài khoản giao dịch điện tử phù hợp với nhu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Lịch sử giao dịch của tài khoản giao dịch điện tử có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về an ninh mạng;
b) Gắn duy nhất với một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là chủ tài khoản giao dịch điện tử;
c) Bảo đảm chính xác thời gian giao dịch từ nguồn thời gian theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia.

Theo đó, tài khoản giao dịch điện tử theo Luật Giao dịch điện tử trên nền tảng số phục vụ hoạt động mạng xã hội tại Việt Nam thuộc trường hợp phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử theo khoản 9 Điều 40 Nghị định 69/2024/NĐ-CP được bổ sung bởi Nghị định 320/2026/NĐ-CP.

Tuy nhiên, quy định trên chỉ áp dụng đối với “tài khoản giao dịch điện tử” trên nền tảng số phục vụ hoạt động mạng xã hội, không quy định theo hướng tất cả tài khoản mạng xã hội đều mặc nhiên thuộc đối tượng phải liên kết với VNeID. Theo Điều 46 Luật Giao dịch điện tử 2023, tài khoản giao dịch điện tử là tài khoản do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp, được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản.

Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320/2026 hay không?

Có phải liên kết tài khoản mạng xã hội với VNeID Theo Nghị định 320/2026 hay không? (Hình từ Internet)

Thời hạn tài khoản giao dịch điện tử trên mạng xã hội phải liên kết tài khoản VNeID là khi nào?

Căn cứ tại khoản 3 Điều 20 Nghị định 320/2026/NĐ-CP quy định xác thực với VNeID như sau:

Điều 20. Điều khoản thi hành
[...]
3. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 28 tháng 9 năm 2026.
Các nền tảng số quốc gia phải tích hợp việc sử dụng tài khoản định danh điện tử trong xác thực, đăng nhập, thực hiện các giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác chậm nhất trước ngày 31 tháng 12 năm 2026.
Các tài khoản giao dịch điện tử quy định tại khoản 9 Điều 40 Nghị định này (trừ lĩnh vực ngân hàng) đã tạo lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử chậm nhất trước ngày 31 tháng 12 năm 2026.
Các tài khoản giao dịch điện tử quy định tại khoản 9 Điều 40 Nghị định này thuộc lĩnh vực ngân hàng đã tạo lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực phải được liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử chậm nhất trước ngày 30 tháng 6 năm 2027.
[...]

Như vậy, đối với tài khoản giao dịch điện tử trên nền tảng số phục vụ hoạt động mạng xã hội đã được tạo lập trước ngày 28/9/2026 thì phải hoàn thành việc liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử chậm nhất trước ngày 31/12/2026.

Đối với tài khoản giao dịch điện tử được tạo lập từ ngày 28/9/2026 trở đi, việc liên kết, xác thực với tài khoản định danh điện tử được thực hiện theo yêu cầu tại khoản 9 Điều 40 Nghị định 69/2024/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 19 Nghị định 320/2026/NĐ-CP.

Quy định về cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử theo quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 8 Nghị định 69/2024/NĐ-CP sửa đổi bởi Điều 4 Nghị định 320/2026/NĐ-CP quy định về cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử theo quy định như sau:

(1) Các giấy tờ không thuộc bí mật nhà nước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được tự động đồng bộ, cập nhật vào hệ thống định danh và xác thực điện tử khi cơ quan, tổ chức đó có cơ sở dữ liệu đã kết nối với hệ thống định danh và xác thực điện tử.

Khi thông tin, giấy tờ trên Ứng dụng định danh quốc gia có sự thay đổi thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ phải thực hiện cập nhật ngay thông tin, giấy tờ. Trường hợp khách quan chưa thể thực hiện tại thời điểm phát sinh thay đổi thì thời gian cập nhật trên Ứng dụng định danh quốc gia không quá 24 giờ kể từ thời điểm phát sinh dữ liệu cập nhật và không quá 05 phút trong trường hợp công dân có yêu cầu cập nhật trực tiếp trên Ứng dụng định danh quốc gia.

(2) Việc tích hợp thông tin, giấy tờ trong trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ chưa có cơ sở dữ liệu được thực hiện như sau:

- Chủ thể danh tính điện tử gửi yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ đến hệ thống định danh và xác thực điện tử thông qua Ứng dụng định danh quốc gia

- Trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày hệ thống định danh và xác thực điện tử nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện truy cập hệ thống định danh và xác thực điện tử bằng tài khoản định danh điện tử của cơ quan, tổ chức đó để tiếp nhận, xử lý, phê duyệt yêu cầu tích hợp thông tin, giấy tờ của chủ thể danh tính điện tử theo hướng dẫn của Bộ Công an

- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp giấy tờ thực hiện cập nhật thông tin, giấy tờ đã tích hợp trên Ứng dụng định danh quốc gia đồng thời với việc phê duyệt điều chỉnh thông tin, giấy tờ đó.

(3) Cơ quan quản lý, vận hành hệ thống định danh và xác thực điện tử tích hợp giấy tờ lên Ứng dụng định danh quốc gia theo yêu cầu của chủ thể danh tính điện tử để phục vụ việc chia sẻ, khai thác, sử dụng trên môi trường điện tử.

(4) Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được khai thác thông tin, giấy tờ trong hệ thống định danh và xác thực điện tử phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó.

(5) Cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác thông tin, giấy tờ của mình trong hệ thống định danh và xác thực điện tử.

(6) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này khi khai thác thông tin, giấy tờ của tổ chức, cá nhân khác trong hệ thống định danh và xác thực điện tử qua Ứng dụng định danh quốc gia phải được sự đồng ý của chủ thể thông tin, giấy tờ được khai thác. Trường hợp khai thác thông tin, giấy tờ của người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người dưới 14 tuổi, người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của một trong những người đại diện hợp pháp, người thừa kế theo quy định pháp luật.

Logo Thư viện Pháp luật
Ngô Diễm Quỳnh Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Hỏi đáp pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Bài viết mới nhất