Công văn 7210/THO-NVDTPC giới thiệu một số điểm mới Nghị định 291/2026/NĐ-CP với nội dung gì?
Ngày 4/8/2026 Thuế tỉnh Thanh Hoá ban hành Công văn 7210/THO-NVDTPC giới thiệu một số điểm mới của Nghị định 291/2026/NĐ-CP của Chính phủ
Thuế tỉnh Thanh Hóa giới thiệu đến Người nộp thuế một số điểm mới của Nghị định 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 của Chính phủ như sau:
[1] Bổ sung quy định về xử phạt hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin
Điều 2 Nghị định 291/2026/NĐ-CP bổ sung Mục 3 và Điều 19a vào sau Mục 2 Chương II Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với người nộp thuế và tổ chức, cá nhân có liên quan có hành vi vì phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết. Theo đó, Điều 19a quy định các mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với người nộp thuế và tổ chức, cá nhân khác có liên quan thực hiện các hành vi vi phạm hành chính, cụ thể như sau:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn từ 05 ngày trở lên.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan thuế.
- Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không cung cấp thông tin sau 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn cung cấp thông tin hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn cung cấp thông tin hoặc hành vi thông đồng, bao che người nộp thuế nhăm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin.
- Trường hợp đối tượng vi phạm không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không chính xác, không đầy đủ theo yêu cầu của cơ quan thuế thì cơ quan thuế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin theo yêu cầu.
[2] Sửa đổi, bố sung quy định về nguyên tắc xử phạt
Điều 1 Nghị định 291/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 3 Điều 5 Nghị định 125/2020/NĐ-CP quy định nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Theo đó, bãi bỏ nguyên tắc:
“hành vi vi phạm về sử dụng hóa đơnkhông hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16, Điều 17 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP thì không bị xử phạt theo Điều 28 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP" do quy định “vi phạm hành chính về sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn hoặc sử dụng hóa đơn không đúng quy định dẫn đến thiểu thuế, trốn thuế thì không xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn mà bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuể” tại khoản 2 Điều 136 Luật Quản lý thuế năm 2019 đã được bãi bỏ theo Luật Quản lý thuế năm 2025. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc “hành vi vi phạm về cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuể mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 19a thì không bị xử phạt theo Điều 14, Điểu 15, Điễu 19 Nghị định số 125/2020/NÐCP" nhằm bảo đảm một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
[3] Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính
Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật để xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Điều 7 Nghị định 118/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 68/2025/NĐ-CP và Nghị định 190/2025/NĐ-CP). Cụ thể:
- Hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 19a Nghị định 125/2020/NĐ-CP được áp dụng kể từ thời điểm Nghị định 291/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 21/7/2026).

Công văn 7210/THO-NVDTPC giới thiệu một số điểm mới Nghị định 291/2026/NĐ-CP với nội dung gì? (Hình từ Internet)
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn gồm những ai?
Căn cứ Điều 3 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định:
[1] Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn bao gồm:
(1.1) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Trường hợp người nộp thuế ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện các nghĩa vụ về thuế mà pháp luật về thuế, quản lý thuế quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của bên được ủy quyền phải thực hiện thay người nộp thuế thì nếu bên được ủy quyền có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân được ủy quyền bị xử phạt theo Nghị định này.
Trường hợp theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay người nộp thuế mà tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định tại Nghị định này.
Trường hợp theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu, đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai có nghĩa vụ đăng ký thuế, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung, đơn vị hợp thành được Tập đoàn giao trách nhiệm gửi thông báo đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai và danh sách các đơn vị hợp thành thuộc đối tượng áp dụng Nghị quyết 107/2023/QH15 có hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định này thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.
(1.2) Tổ chức, cá nhân liên quan vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
[2] Người nộp thuế là tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn bao gồm:
- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác; đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, địa điểm kinh doanh trực tiếp kê khai, nộp thuế, sử dụng hóa đơn;
- Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập;
- Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã;
- Tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài, văn phòng điều hành của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam;
- Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;
- Tổ hợp tác và các tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.
Tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trong lĩnh vực thuế, hóa đơn được quy định thế nào?
Tại Điều 6 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trong lĩnh vực thuế, hóa đơn như sau:
- Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Vi phạm hành chính có quy mô lớn theo điểm l khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính được xác định trong các trường hợp sau:
+ Thực hiện một hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn với số lượng từ 10 số hóa đơn trở lên đối với các hành vi quy định tại khoản 2 Điều 22, Điều 26 và Điều 27 của Nghị định này;
+ Thực hiện một hành vi trốn thuế quy định tại Điều 17 của Nghị định này với số tiền thuế trốn từ 100.000.000 đồng trở lên đối với các trường hợp chuyển hồ sơ vi phạm để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];