Bản án 99/2019/DS-ST ngày 02/10/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 99/2019/DS-ST NGÀY 02/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 02 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 374/2019/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Trần Thanh Thủy, sinh năm: 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: bà Phan Thị Mai, sinh năm: 1963 (Vắng mặt).

Đa chỉ: ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên nguyên đơn bà Trần Thanh Thủy trình bày:

Năm 2011 bà có tham gia chơi hụi do bà Mai làm chủ, bà chơi tổng cộng 07 phần hụi. Sau khi bà Mai vỡ hụi thì bà Mai có thừa nhận còn nợ bà số tiền 37.800.000 đồng, sau đó bà Mai tiếp tục trả dần cho bà được 6.300.000 đồng còn lại 31.500.000 đồng thì không trả nữa nên bà có gửi đơn đến tổ hòa giải ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân. Tại buổi hòa giải bà Mai cũng có thừa nhận số tiền cò n nợ và hứa trả dần mỗi tháng 500.000 đồng, bà Mai trả được 06 tháng, mỗi tháng trả 500.000 đồng, tổng cộng được 3.000.000 đồng còn lại 28.500.000 đồng bà Mai không trả nên bà khởi kiện yêu cầu bà Mai trả cho bà số tiền 28.500.000 đồng.

Trong quá trình Tòa án giải quyết thì ngày 18/7/2019, Ban ấp có vận động bà Mai tiếp tục trả số tiền hụi còn nợ cho bà thì bà Mai hứa trả 2.700.000 đồng trước nhưng vẫn không thực hiện. Đến ngày 30/7/2019, bà Mai có viết tờ thỏa thuận xác định số tiền bà Mai còn nợ bà số tiền 28.500.000 đồng và trả tiếp cho bà được 2.000.000 đồng, có bà Nguyễn Thị Rồi làm chứng đồng thời có chữ ký và cam kết của bà Mai đồng ý trả cho bà mỗi tháng 500.000 đồng.

Tng cộng hiện tại bà Mai còn nợ bà 26.500.000 đồng. Bà rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 2.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà Mai trả cho bà 26.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Phan Thị Mai đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đ tham gia phiên họp ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà vắng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà Mai về nội dung đơn khởi kiện của bà Thủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Bà Trần Thanh Thủy khởi kiện bà Phan Thị Mai. Bà Phan Thị Mai có nơi cư trú tại ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn bà Phan Thị Mai đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Mai.

- Về nội dung:

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Thủy rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 2.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bà Mai trả số tiền hụi còn nợ 26.500.000 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ đi m c, Khoản 1, Điều 217, Khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với số tiền 2.000.000 đồng.

[4] Căn cứ nội dung trình bày, Biên bản hòa giải ngày 26/10/2017 tại Văn phòng ban ấp Bình Quới, biên nhận ngày 30/7/2019 có chữ ký, chữ viết của bà Mai với nội dung còn nợ bà Thủy số tiền 28.500.000 đồng và c am kết trả cho bà Thủy mỗi tháng 500.000 đồng, có chữ ký của người làm chứng bà Nguyễn Thị Rồi, biên nhận do bà Thủy cung cấp. Do đó, có cơ sở xác định giữa bà Thủy và bà Mai có xác lập giao dịch hụi và bà Thủy có tham gia góp hụi do bà Mai làm chủ hụi. Sau khi vỡ hụi thì bà Mai có trả tiền cho bà Thủy nhiều lần và còn nợ lại bà Thủy số tiền 28.500.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 30/7/2019, bà Mai có tiếp tục trả cho bà Thủy được 2.000.000 đồng, còn lại 26.500.000 đồng.

Xét thấy do bà Mai đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi và bà Thủy yêu cầu bà Mai trả số tiền hụi còn nợ 26.500.000 đồng phù hợp với quy định tại Điều 280, 471 Bộ luật dân sự năm 2015, Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ nên có cơ sở đ Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: bà Phan Thị Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 228, 244 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 280, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh Thủy.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh Thủy đối với số tiền hụi còn nợ 2.000.000 đồng.

- Buộc bà Phan Thị Mai có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thanh Thủy số tiền 26.500.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phan Thị Mai phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.325.000 đồng (Một triệu, ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Bà Trần Thanh Thủy được nhận lại 712.000 đồng (Bảy trăm mười hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0012806 ngày 22/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bà Trần Thanh Thủy được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bà Phan Thị Mai được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Tng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 99/2019/DS-ST ngày 02/10/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:99/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về