Bản án 33/2017/DS-ST ngày 24/08/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 33/2017/DS-ST NGÀY 24/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 24 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2017/TLST- DS ngày 23/5/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2017/QĐXXST-DS ngày 19/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2017/QDST – DS ngày 08/8/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Namặt

Địa chỉ: Tầng 1-7 Tòa nhà T, Số 72 T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Ủy quyền tham gia tố tụng cho: Bà Lê Hiền T - Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế Ngân hàng TMCP Việt Namặt.

Ủy quyền lại cho: Ông Dương Thanh T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Số 544 C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt).

Theo văn bản ủy quyền số 111/2017/UQ – GĐK – TDTD ngày 21/4/2017.

Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ H, ấp P, xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện nguyên đơn ông Dương Thanh T trình bày:

Ngân hàng TMCP Việt Nam và ông Lê Văn K có ký kết hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 – 0008 Ngày 29/01/2015.

Thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng cụ thể như sau: 

Ngân hàng cho ông K vay số tiền là 31.500.000 đồng, lãi suất 2,92%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp. Ông K có trách nhiệmặthanh toán số tiền gồm gốc và lãi là 44.234.000 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 31.500.000 đồng, tiền lãi là 12.734.000 đồng. Thời hạn trả trong 24 tháng (24 kỳ), theo đó 23 tháng đầu mỗi tháng thanh toán 1.844.000 đồng, tháng cuối thanh toán 1.822.000 đồng, bắt đầu thanh toán từ ngày 06/3/2015.

Sau khi nhận đủ số tiền vay 31.500.000 đồng qua hình thức chuyển khoản, ông K không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo như thỏa thuận tại hợp đồng đã ký giữa các bên.

Nay Ngân hàng TMCP Việt Namặt khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn K phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 31.500.000 đồng, không yêu cầu ông K phải trả tiền lãi suất theo như thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng trên.

Tại phiên tòa, Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông K phải thanh toán số nợ lãi phát sinh do chậmặthanh toán tính từ thời điểm khởi kiện ngày 23/5/2017 cho đến ngày xét xử.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm:

Bản sao hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 – 0008 Ngày 29/01/2015.

Về bị đơn:

Theo kết quả xác minh tại Công an xã M, huyện T thì ông Lê Văn K đang cư trú tại tổ H, ấp P, xã M, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tòa án nhân dân huyện Tân Thành đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Lê Văn K để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông K v n cố tình vắng mặt, không tham gia tố tụng, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông Lê Văn K phải thanh toán toàn bộ tiền nợ gốc cho Ngân hàng TMCP Việt Nam.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên buộc ông Lê Văn K phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 - 0008 ngày 29/01/2015 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Việt Namặt và ông Lê Văn K với mục đích vay tiêu dùng cá nhân, một trong hai bên không có mục đích lợi nhuận, nay có phát sinh tranh chấp nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là quan hệ pháp luật dân sự về“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Bị đơn ông Lê Văn K có địa chỉ tại huyện T nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và trong thời hạn khởi kiện.

Ông Lê Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lí do chính đáng. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung: Sự kiện pháp lí xảy ra vào ngày 29/01/2015 giữa một bên đương sự là tổ chức tín dụng và bên còn lại là cá nhân nên cần áp dụng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết.

[2] Về nội dung khởi kiện:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:
Ngân hàng TMCP Việt Namặt và ông Lê Văn K có ký kết hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 – 0008 Ngày 29/01/2015. Theo thỏa thuận tại hợp đồng thì Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Namặt cho ông Lê Văn K vay số tiền là 31.500.000 đồng, lãi suất 2,92%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, thời hạn vay 24 tháng kể từ khi vay, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp. Tổng số tiền bên vay phải trả cho bên cho vay từ khi vay đến khi kết thúc hợp đồng là 44.234.000 đồng, trong đó tiền gốc là 31.500.000 đồng, tiền lãi là 12.734.000 đồng.

Sau khi nhận đủ số tiền vay 31.500.000 đồng qua hình thức chuyển tiền vào tài khoản của mình, ông K không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho Ngân hàng theo như thỏa thuận tại hợp đồng đã ký giữa các bên.

Ngân hàng TMCP Việt Namặt khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn K phải thanh toán số tiền nợ gốc là 31.500.000 đồng.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy:

Hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 – 0008 Ngày 29/01/2015 giữa Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Namặt và ông Lê Văn K được kí kết đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu ông K cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh quá trình vay và thanh toán của mình, tuy nhiên ông K từ chối tham gia tố tụng, không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn m c dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Trong trường hợp này bị đơn ông Lê Văn K được xem là cố tình vắng mặt nhằm từ chối thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận đối với nguyên đơn nên bị đơn phải chịu trách nhiệm về sự vắng mặt của mình. Do đó, Căn cứ vào quy định của Bộ luật dân sự cần buộc bị đơn phải chịu trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc đã vay là 31.500.000 đồng. 

Về yêu cầu tính lãi suất, thấy: Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông K phải thanh toán số nợ lãi phát sinh do chậm thanh toán tính từ thời điểm khởi kiện 23/5/2017 cho đến ngày xét xử. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đại diện Ngân hàng yêu cầu sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu mức lãi chậmặthanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự mà không phải chịu mức lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 20150204 – 500001 – 0008 ngày 29/01/2015.

Xét yêu cầu này của đại diện Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành cần buộc ông Lê Văn K phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam số tiền còn nợ gốc là 31.500.000 đồng.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.575.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39 và Điều 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;Căn cứ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 11 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam đối với ông Lê Văn K về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc ông Lê Văn K thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam số tiền nợ gốc là 31.500.000đ (Ba mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả thêm cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Namặt về việc yêu cầu Tòa án buộc buộc ông K phải thanh toán số nợ lãi phát sinh do chậm thanh toán tính từ ngày 23/5/2017 cho đến ngày xét xử. 

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn K phải nộp số tiền 1.575.000 đ (Một triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Namặt số tiền 787.000 đ (Bảy trăm tám mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003835 ngày 19/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được niêm yết công khai ho c tống đạt hợp lệ.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về