Bản án 30/2018/DS-ST ngày 04/05/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp là hợp pháp

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH Đ

BẢN ÁN 30/2018/DS-ST NGÀY 04/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ YÊU CẦU CÔNG NHẬN HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP LÀ HỢP PHÁP

Ngày 04/05/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2017/TLST - DS ngày 04/4/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp là hợp pháp” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-DS ngày 26/3/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số:18/2018/QĐST- DS ngày 13/4/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đ

Địa chỉ: ấp Trung Tâm, xã Xuân Lập, TX. Long Khánh, Đồng Nai

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Đức Hải

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy Thức, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: số 77 Nguyễn Thị Minh Khai, khu phố 6, phường Xuân An, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Theo văn bản ủy quyền ngày 20 tháng 3 năm 2017.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L- SN 1957

Địa chỉ: ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Ninh Thị Nhút- sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai  (Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2017, đơn khởi kiện bổ Sung ngày 07/9/2017, , nguyên đơn Quỹ Thức đại diện trình bày tín dụng cao su Đồng Nai do ông Nguyễn Duy

Vào ngày 20/01/2016 bà Nguyễn Thị Lẻn có ký hợp đồng tín dụng số 24/2016 vay vốn Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất cho vay 1,10%/tháng, mục đích vay nâng cấp sửa chữa nhà. Để đảm bảo khoản vay, bà Nguyễn Thị Lẻn đã ký hợp đồng thế chấp số 01/2016/HĐTC thế chấp thửa diện tích 190m2 đất thuộc thửa số 93, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất tỉnh

Đồng Nai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 648948 do UBND huyện

Thống Nhất cấp ngày 09/01/2008 do bà Nguyễn Thị Lẻn đứng tên. Mặc dù đã qua hạn thanh toán theo hợp đồng tín dụng nhưng bà Nguyễn Thị Lẻn vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của mình.

Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền gốc và lãi tạm tính đến xét xử sơ thẩm là 271.757.000đ (hai trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng).Trong đó nợ gốc là: 200.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 20.167.000 đồng (hai mươi triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng), lãi quá hạn 51.590.000đ (năm mươi mốt triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng). Nếu bị đơn không thanh toán số tiền trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án.

Qũy tín dụng nhân dân Cao su Đồng Nai yêu cầu Tòa án Công nhận hợp đồng thế chấp số 01/12/HĐTC ngày 20/01/2016 đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai, chi nhánh huyện Thống nhất là hợp pháp. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại hợp đồng thế chấp trên được tiếp tục dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ.

Quan điểm của bị đơn bà Nguyễn Thị Lẻn: bà Nguyễn Thị Lẻn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không có quan điểm đối với yêu cầu của người khởi kiện.

Theo lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ninh Thị Nhút thể hiện: Bà Nhút là cháu ruột của bà Nguyễn Thị Lẻn. Bà thừa nhận chữ ký và chữ viết tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án vay trả nợ đề ngày 20/01/2016 với tư cách người đồng trách nhiệm và tại hợp đồng tín dụng số 24/2016/HĐTD ngày 20/01/2016 với tư cách là người thừa kế. Tuy nhiên mục đích chỉ là để hợp thức hóa thủ tục hồ sơ vay tiền giúp bà Nguyễn Thị Lẻn chứ bà Nhút không thụ hưởng nên không đồng ý liên đới thanh toán khoản nợ trên cho Qũy Tín dụng nhân dân Cao Su Đồng Nai.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên Tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều làm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng được Tòa án tiến hành đúng quy định; quyền lợi và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự được đảm bảo.

Tuy nhiên trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 24/2016 ngày 20/01/2016 bà Nguyễn Thị Lẻn có ký vay vốn Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai, tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại Hợp đồng thế chấp 01/2016/HĐTC ngày 20/01/2016. Tuy nhiên đến hạn hợp đồng nhưng bà Lẻn không thanh toán cả gốc lẫn lãi cho Quỹ tín dụng, nên phía Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu bà Lẻn thanh toán nợ cho Quỹ tín dụng gồm vốn gốc và lãi phát sinh là có căn cứ chấp nhận. Trường hợp bà Lẻn không trả được số nợ trên thì Quỹ tín dụng cao su Đồng Nai có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mãi đối với quyền sử dụng đất của bà Lẻn đã thế chấp để thu hồi nợ cho Quỹ tín dụng cao su Đồng Nai .

- Đối với bà Ninh Thị Nhút là người đồng trách nhiệm trong hồ sơ vay vốn kiêm phương án vay trả nợ, người thừa kế trong hợp đồng tín dụng, tuy nhiên bà Nhút không thừa nhận nợ và thụ hưởng. Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai

cũng không yêu cầu bà Nhút có nghĩa vụ liên đới thanh toán khoản nợ trên nên không buộc bà Nhút phải đồng trách nhiệm trả nợ đối với khoản vay của bà Lẻn.

Căn cứ khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Căn cứ các Điều 299; 317; 318; 320; 323, 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 2, điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai, buộc bà Nguyễn Thị Lẻn có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng số 24/2016 ngày 20/01/2016 và lãi phát sinh. Hợp đồng thế chấp số 01/2016/HĐTC ngày 20/01/2016 là hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật. Buộc bà Lẻn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

1.1 Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ liên quan đến địa chỉ cư trú của bị đơn, tuy nhiên vẫn không xác định được nơi cư trú cuối cùng hiện nay của bị đơn đang ở đâu. Tuy nhiên trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ cư trú của bị đơn, nhưng khi họ bỏ đi khỏi địa phương không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Do đó, trường hợp trên của bị đơn được xem là cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 173, 178, 179 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 do bị đơn vắng mặt; Ngày11/4/2018 Bà Ninh Thị Nhút  có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

1.2 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quỹ tín dụng cao su Đồng Nai khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Lẻn phải thanh toán khỏan nợ vay theo hợp đồng tín dụng số 24/2016 ngày 20/01/2016 và  Hợp đồng thế chấp số 01/2016/HĐTC ngày 20/01/2016. Nếu bị đơn không thanh toán số tiền trên thì nguyên đơn được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án, căn cứ khoản 3, Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với người dân có mục đích vay là sửa chữa nâng cấp nhà nên thuộc sự điều chỉnh của Luật dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

2. Về nội dung:

2.1 Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn : Căn cứ khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, (HĐXX) khẳng định hợp đồng tín dụng số 24/2016 ngày 20/01/2016 và Hợp đồng thế chấp số 01/2016/HĐTC ngày 20/01/2016 giữa Quỹ tín dụng cao su Đ và bà Nguyễn Thị L là đúng theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ của người vay phải thanh toán nợ gốc và lãi suất với người cho vay khi đến hạn. Tuy nhiên từ thời gian đó cho đến nay bị đơn chỉ thực hiện nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền nợ gốc là 6.600.000đ và không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 271.757.000đ (hai trăm bảy mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng). Trong đó nợ gốc 200.000.000đ (hai trăm triệu) và tiền lãi: 71.757.000đ (bảy mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng) là có căn cứ.

2.2 Xét tính hợp pháp của hợp đồng thế chấp: Người tham gia hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; phù hợp với quy định pháp luật. Đối với việc thế chấp tài sản thấy rằng, để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng , bà Lẻn đã thế chấp quyền sử dụng đất hợp pháp của mình với diện tích đất 190m2, thửa số 93, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận QSDĐ số AI 648948 do UBND huyện Thống Nhất cấp ngày 09/01/2008 do bà Nguyễn Thị Lẻn đứng tên. Xét việc thế chấp tài sản được các bên ký kết theo quy định của pháp luật, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai. Chi nhánh huyện Thống Nhất chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm nên có giá trị thực hiện.

2.3 Về yêu cầu của nguyên đơn đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Ninh Thị Nhút trong hồ sơ vay vốn tại giấy đề nghị vay ngày 20/1/2016 bà Nhút ký với tư cách người đồng trách nhiệm, nhưng tại hợp đồng tín dụng 24/2016 ngày 20/01/2016 thì bà Nhút chỉ tham gia ký kết với tư cách người thừa kế nên

Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai chỉ yêu cầu người phải trả khoản nợ này là bà Nguyễn Thị Lẻn chứ không yêu cầu bà Nhút có nghĩa vụ trả nợ. Mặt khác nhận thấy mục đích bà Nhút ký là để hợp thức hóa thủ tục hồ sơ vay tiền cho bà Lẻn chứ bà

Nhút không thụ hưởng nên không liên đới thanh toán khoản nợ trên cho Qũy Tín dụng nhân dân Cao Su Đồng Nai.

2.4 Về yêu cầu trả nợ lãi: xét sự thỏa thuận về mức lãi suất cho vay của các bên là phù hợp với quy định của pháp luật về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Nợ gốc và lãi suất phù hợp với bảng chiết tính gốc và lãi nên xác định tính đến ngày 04/5/2018 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền lãi là 71.757.000đ (bảy mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng). Xét cần chấp nhận yêu cầu trả nợ lãi của nguyên đơn theo khoản 2, điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Từ những phân tích nêu trên HĐXX buộc bà L bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) và tiền lãi là: 71.757.000đ (bảy mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng). Tổng cộng là: 271.757.000đ (hai trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng là có căn cứ chấp nhận.

2.5 Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là : 5.530.000đ (năm triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cho Quỹ tín dụng cao su Đồng Nai theo các biên lai thu tiền số 002056 ngày 04/4/2017 và 002260 ngày 07/9/2017 của chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên về việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử thì do bị đơn là bà Nguyễn Thị L cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ không chấp hành các văn bản tố tụng nên Tòa án phải tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nên ảnh hưởng đến thời hạn chuẩn bị xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 299; 317; 318; 320; 323, 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 2, điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu , miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đ.

Công nhận hợp đồng thế chấp số 01/12/HĐTC ngày 20/01/2016 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai- Chi nhánh huyện Thống Nhất chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm là hợp pháp. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại hợp đồng thế chấp trên được tiếp tục dùng để đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán nợ.

Buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán cho Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai ,tổng cộng số tiền là : 271.757.000đ (hai trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi bảy ngàn đồng). Trong đó, nợ  gốc 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng); Lãi trong hạn: 20.167.000 đồng (hai mươi triệu một trăm sáu mươi bảy ngàn đồng), lãi quá hạn 51.590.000đ (năm mươi mốt triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng) được tính đến ngày 04/5/2018.

Bà L phải chịu khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 05/5/2018 trở đi được tính trên số dư nợ gốc thực tế theo lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 24/2016/HĐTD ký ngày 20/1/2016 cho đến khi thanh toán xong nợ vay.

Trường hợp bà L không thanh toán số tiền trên thì Quỹ tín dụng nhân dân cao su Đồng Nai được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án theo

Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2016/HĐTC ngày 20/01/2016. Tài sản thế chấplà: diện tích đất 190m2, thửa số 93, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại ấp Xuân Thiện, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 648948 do UBND huyện Thống Nhất cấp cho bà Nguyễn Thị L vào ngày 09/01/2008.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 271.757.000đ x 5% = 13.587.850đ (mười ba triệu năm trăm tám mươi bảy ngàn tám trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là : 5.530.000đ (năm triệu năm trăm ba mươi ngàn đồng và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí cho Quỹ tín dụng cao su Đồng Nai theo các biên lai thu tiền số 002056 ngày 04/4/2017 và 002260 ngày 07/9/2017 của chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 30/2018/DS-ST ngày 04/05/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp là hợp pháp

Số hiệu:30/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thống Nhất - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về