Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 10/04/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 15/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 10/4/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 478/2017/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXHNGĐST ngày 20/3/2018 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương, sinh năm 1986. (Có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Số nhà 35, đường Lều Văn Minh, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

+ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1984. (Có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Số nhà 35, đường Lều Văn Minh, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2017 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Phương trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/3/2014 chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Nam trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Sau khi kết hôn, chị Phương về làm dâu tại gia đình nhà anh Nam tại số nhà 35, đường Lều Văn Minh, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc. Đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị Phương cho rằng nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh Nam không chịu tu trí làm ăn lại ham mê cờ bạc lấy tài sản của chị mang đi cầm cố để tiêu sài. Từ tháng 5/2017 cho đến nay, chị đã về nhà mẹ đẻ ở tại thôn Thượng, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và ly thân với anh Nam. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn Nam Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phương Nhi, sinh ngày 21/9/2015. Hiện cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường và đang ở cùng với anh Nam. Khi chị ra khỏi nhà anh Nam thì chị có đưa con theo nhưng gia đình anh Nam và anh Nam không cho chị đưa con đi. Hiện nay chị đang làm việc cho Phòng khám đa khoa Phượng Đỏ, địa chỉ số 498 Nguyễn Văn Ninh, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, thu nhập hàng tháng ổn định khoảng 18 triệu đồng và có chỗ ở ổn định. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Phương Nhi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu anh Nam phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Văn Nam trình bày: Thống nhất với lời khai của chị Phương về thời điểm kết hôn và đăng ký kết hôn, về mâu thuẫn vợ chồng và về con chung.

Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị Phương vào ngày 11/3/2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu. Sau khi kết hôn chị Phương về làm dâu nhà anh ngay. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc. Đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh cũng có lần lấy tài sản của chị Phương đi cầm cố. Đến tháng 5/2017 chị Phương bỏ đi về nhà bố mẹ đẻ ở và sống ly thân với anh từ đó cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Tại bản tự khai đề ngày 05/02/2018 anh cho rằng xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn với chị Phương. Tại phiên tòa anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh đồng ý ly hôn với chị Phương.

Về con chung: anh và chị Phương có một con chung là cháu Nguyễn Phương Nhi, sinh ngày 21/9/2015, cháu đang ở với anh. Hiện nay anh đang làm tại Công ty phân đạm và hóa chất Hà Bắc thu nhập hàng tháng ổn định là 5 triệu đồng, Ly hôn, anh mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Nhi. Anh không yêu cầu chị Phương phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên Toà hôm nay, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự, chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương và anh Nguyễn Văn Nam.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phương Nhi cho chị Nguyễn Thị Phương trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, chị Phương không yêu cầu anh Nam cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Phương phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nam và chị Phương kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn và cưới hỏi theo phong tục địa phương nên quan hệ hôn nhân giữa anh Nam và chị Phương là hợp pháp.

[2] Trong thời gian chung sống hai bên thường xảy ra mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến thường xuyên đánh cãi chửi nhau (chị Phương cho rằng anh Nam không chịu tu trí làm ăn lại ham mê cờ bạc lấy tài sản của chị mang đi cầm cố) dẫn tới việc tháng 5 năm 2017 chị Phương đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở tại thôn Thượng, xã Dương Đức, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, hai người sống ly thân với nhau từ đó không ai còn quan tâm đến ai nữa.

[3] Về con chung: Chị Phương và anh Nam có 01 con chung là Nguyễn Phương Nhi, sinh ngày 21/9/2015. Hiện nay cháu Nhi chung sống cùng với anh Nam. Anh Nam và chị Phương đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Cháu Nhi mới gần 3 tuổi nên cần phải có sự chăm nom, chăm sóc trực tiếp của bố hoặc mẹ. Xét về điều kiện kinh tế và thu nhập thì cả chị Phương và anh Nam đều có công ăn việc làm ổn định, đảm bảo để trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Nhi, cháu còn nhỏ tuổi (dưới 36 tháng tuổi) cần có sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ, cần giao cháu Nhi cho chị Phương trực tiếp nuôi dưỡng đúng theo như quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: Về nguyên tắc con chung dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phương không yêu cầu anh Nam cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, công nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[7] Về án phí: Chị Phương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điển a khoản 1 điều 35; Điều 147; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 - Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phương và anh Nguyễn Văn Nam.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Phương Nhi cho chị Nguyễn Thị Phương trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Phương đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2012/06518 ngày 27/12/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7,7a và 7b Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 10/04/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về