Bản án 109/2017/HSST ngày 20/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 109/2017/HSST NGÀY 20/12/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20.12.2017  tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2017/HSST ngày 20.10.2017 đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn S (Xỉn)- Sinh ngày 07.02.1990

Nơi ĐKNKTT và chổ ở:tổ 46B, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng.

Trình độ học vấn : 07/12; Nghề nghiệp: không. Con ông Nguyễn Văn T (c) và bà Phạm Thị H (c) Tiền án:

+ Ngày 16.9.2014, bị Tòa án nhân dân quận L xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28.02.2015.

+ Ngày 02.3.2016, bị Tòa án nhân dân quận L xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 29.12.2016.

Tiền sự: Chưa.

Nhân thân:

+ Ngày 16.12.2009, UBND TP. Đà Nẵng ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng;

+ Ngày 13.9.2012, bị Cơ quan CSĐT Công an quận L khởi tố về hành vi hiếp dâm, ngày 30.11.2012 đình chỉ điều tra bị can.

+ Ngày 22.8.2013, sử dụng trái phép chất ma túy và bị đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Quyết định số 13.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27.8.2017, có mặt tại phiêntòa.

* Người bị hại:

Ông Trần K, sinh năm 1995 (vắng mặt có lý do)

Nơi ĐKNKTT: tổ 4, khối 6, phường E, Tp B, tỉnh Đắc Lắc

Tạm trú tại: K9/50 đường L, quận L, TP Đà Nẵng

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 (vắng mặt có lý do)

Trú tại: số 142 đường C, phường B, quận L, TP Đà Nẵng

2.Nguyễn Thị Dung, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Trú tại: tổ 46B, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn S bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 02h30’ ngày 26.8.2017, sau khi chơi game tại quán HT đường Đ, phường B xong, Nguyễn Văn S đi bộ về nhà, khi đi ngang qua nhà trọ tại K09/50 đường L, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng thì thấy cửa sổ trên tầng hai của ngôi nhà không đóng, S đột nhập lên tầng hai của ngôi nhà thì thấy anh Trần K (Sn: 1995, trú tổ 6, phường E, TP. B, tỉnh ĐăkLắk) đang ngủ, trong phòng có 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, 01 chiếc ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc đang xạc pin, và 01 ví da. S lấy trộm 01 máy tính xách tay, 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 và lấy số tiền 80.000 đồng trong ví da (S không lấy ví da)của anh K, sau đó S đem chiếc máy tính xách tay về nhà của anh Nguyễn Văn P (Sn: 1976, trú tổ 46 phường B, quận L) cất giấu trước hiên nhà, còn chiếc điện thoại và 80.000 đồng thì S cất giấu trong người. Khoảng 19h00’ ngày 26.8.2017, S đi đến cửa hàng điện thoại tại số 140, đường C, phường B, quận L gặp anh Ngô Văn T (Sn: 1981, trú tổ 55A, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng) bán chiếc ĐTDĐ hiệu Iphone 6 với giá 800.000 đồng, S sử dụng tiêu xài cá nhân và còn lại 72.000 đồng. Sáng ngày 26.8.2017, anh Trần K phát hiện bị mất tài sản nên trình báo Cơ quan Công an. Ngày 27.8.2017, Công an phường B mời Nguyễn Văn S về làm việc, tại Cơ quan Công an, S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vt chứng tạm giữ:

- 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, model P550L;

- 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc IMEI: 356988065012367;

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 72.000 đồng.

Theo Kết luận số: 65/KL-HĐĐG ngày 28/8/2017 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận:

+ Giá trị sử dụng còn lại của 01 máy vi tính xách tay hiệu ASUS P550L Core i5-4210U đã qua sử dụng là: 6.693.550 đồng;

+ Giá trị sử dụng còn lại của 01 ĐTDĐ Iphone 6 đã qua sử dụng màu bạc IMEI: 356988065012367 là: 5.760.000 đồng.

Tổng giá trị của 02 loại tài sản bị chiếm đoạt trên là: 12.453.550 đồng.

Ngày 29.8.2017, Cơ quan CSĐT Công an quận L ra Quyết định xử lý vật chứng số: 65/CSĐT trả lại cho anh Trần K: 01 máy tính xách tay hiệu ASUS model P550L và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu bạc IMEI: 356988065012367. Anh K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.

Ngày 14.9.2017, chị Nguyễn Thị D (Sn: 1987, trú tổ 46B, phường Hòa B, quận L, TP. Đà Nẵng) là chị của Nguyễn Văn S đã khắc phục số tiền 800.000 đồng cho anh Ngô Văn T, anh T đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Tang vật hiện còn tạm giữ: 72.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 104/KSĐT ngày 19.10.2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận L, TP Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay đại diện VKS nhân dân quận L, TP Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng:điểm c khoản 2 Điều 138, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS

Quy trữ số tiền 72.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn S giao nộp để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của  bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 02h30’ ngày 26.8.2017 khi đi ngang qua nhà trọ tại K09/50 đường L, phường B, quận L, TP. Đà Nẵng, Nguyễn Văn S phát hiện phòng trọ trên tầng hai của ngôi nhà cửa không đóng nên S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, S đột nhập lên tầng hai của ngôi nhà thì thấy anh Trần K đang ngủ, trong phòng có một số tài sản, S đã lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 và số tiền 80.000 đồng của anh K. Tổng giá trị tài sản mà  Nguyễn Văn S chiếm đoạt là: 12.533.550 đồng ( mười hai triệu năm trăm ba mươi ba ngàn năm trăm năm mươi đồng)

Hành vi phạm tội của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 138 BLHS. Ngày 02.3.2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận L xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Với tình tiết là tái phạm.  Chấp hành xong hình phạt ngày 29.12.2016, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS. Như vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng truy tố  bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn S là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, mục đích để có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Việc phạm tội của bị cáo thể hiện thái độ liều lĩnh và xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị kết án, chưa được xóa án, nay tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử và tuyên phạt một mức án nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa.

Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Do vậy, HĐXX sẽ xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,p khoản 1,2 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của nhà nước.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.

Trong vụ án này, anh Ngô Văn T nhận mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu bạc từ S, nhưng anh T không biết đây là tài sản do S trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận L không đề cập xử lý là có căn cứ.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 BLTTHS tuyên:

Quy trữ số tiền 72.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn S giao nộp để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 30.10.2017 Chi cục Thi hành án quận L đang tạm giữ)

* Về án phí: Theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS, điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 03(ba ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27.8.2017.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS

Quy trữ số tiền 72.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn S giao nộp để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng thể hiện tại biên bản bàn giao ngày 30.10.2017 Chi cục Thi hành án quận L đang tạm giữ)

4. Về án phí: án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 đồng

5. Quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 109/2017/HSST ngày 20/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:109/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về