Bản án 102/2006/KTPT ngày 09/05/2006 về việc tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 102/2006/KTPT NGÀY 09/05/2006 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

Ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh tế thị lý số 01KT/2006 ngày 25 tháng 1 năm 2006 về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1081/2006/QĐPT ngày 20/4/2006 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương.

Trụ sở: D2 Hoàng Hoa Thám, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện của nguyên đơn: Ông Phạm Thanh Huy làm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo giấy ủy quyền ngày 14/3/2006 của ông Phạm Ngọc Thanh - Giám đốc Công ty - có mặt.

Bị đơn: Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

Trụ sở: Tầng 12 tòa tháp Vincom - 191 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Đại diện của bị đơn: bà Phạm Thị Dung làm đại diện theo giấy ủy quyền số 12/UQ-CTTC ngày 21/3/2006 của ông Nguyễn Đức Thịnh - Giám đốc Công ty.

Có luật sư Nguyễn Hoàn Thành – Văn phòng Luật sư Phạm và liên doanh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

NHẬN THẤY

Theo bản án dân sự sơ thẩm, vụ việc được tóm tắt như sau:

Ngày 01/3/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương gửi văn bản đến Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đề nghị xin thuê tài chính loại tài sản là màn hình quảng cáo ngoài trời nhiều mầu làm từ các đi ốt phát quang (màn hình LED), kèm theo là bộ hồ sơ đề án đầu tư bản quảng cáo điện tự LED tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và bản thỏa thuận nguyên tắc điều khoản cuả hợp đồng mua bán bảng thông tin LED giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình dương với Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc.

Ngày 10/4/2002, Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Bên A), ký hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HD-CTTC với Công ty trách nhiệm hữu hạn và quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương (Bên B) nội dung cho thuê một màn hình quảng cáo ngoài trời nhiều mầu làm từ các điốt phát quang như bên B đề nghị, mục đích sử dụng để kinh doanh các dịch vụ quảng cáo bằng màn hình. Địa điểm đặt màn hình tại đường Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hòa.

* Việc thuê và cho thuê được thỏa thuận trên nguyên tắc:

- Bên B lựa chọn tài sản, nhà cung ứng, ký thỏa thuận nguyên tắc với nhà cung ứng với các điều kiện như chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, bảo hành…Bên B phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các vấn đề đã hỏa thuận với nhà cung ứng.

- Bên A ký hợp đồng mua thiết bị với nhà cung ứng căn cứ vào thỏa thuận nguyên tắc đã được ký giữa bên B và nhà cung ứng, tài sản được bàn giao giữa 3 bên, cả 3 bên sẽ ký vào biên bản nghiệm thu tài sản.

- Căn cứ đề nghị thanh toán của bên B và biện bản nghiệm thu tài sản bên A sẽ thanh toán cho nhà cung ứng tổng số tiền đầu tư thiết bị (bao gồm thuế VAT) là 311.950 USD tương đương 4.471.000.000 VNĐ, trong đó

+ Bên A tài trợ 2.200.000.000 VN Đ tương đương 46% giá trị hợp đồng và phí bảo hiểm trong suốt thời gian thuê.

+ Phần còn lại 2.541.000.000 VN Đ tương đương 54% bên B sẽ phải trả trước cho bên A để bên A thanh toán với nhà cung ứng.

- Lãi suất thuê: năm đầu tiên là 0.87%/tháng. Từ năm thứ hai trở đi áp dụng lãi suất thả nổi theo quy định của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Lãi suất quá hạn bằng 15% lãi suất trong hạn.

- Phí thuê bằng số dư nợ lãi suất thuê/ quý. Trả 3 tháng một lần.

* Thời hạn thuê là 30 tháng, kể từ ngày bên A thành toán món đầu tiên cho nhà cung ứng cho đến khi bên B trả hết tiền thuê và phí cho bên A.

* Hợp đồng quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn: Hợp đồng cho thuê tài chính có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bị mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa (Điều 12 khoản 3). Trường hợp chấm dứt hợp đồng theo điều khoản này, sau khi bên B trả đủ số tiền thuê cho bên A theo hợp đồng thuê, khi bên A nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán thì bên A sẽ hoàn trả lại cho bên B số tiền bảo hiểm tài sản.

Ngoài ra hợp đồng còn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong đó bên A có nghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm, làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản thuê.

Bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ, đúng hạn tiền thuê và lãi suất quá hạn nếu có theo đúng lịch thanh toán được ký kết kèm theo hợp đồng; thanh toán các chi phí có liên quan đến việc nhập khẩu, thuế, đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm, bảo hiểm đối với tài sản thuê và các chi phí khác theo quy định của Nhà nước.

Sau khi ký hợp đồng các bên còn ký tiếp 04 bản phụ lục hợp đồng nữa thống nhất lịch thanh toán tiền thuê màn hình LED và kéo dài thời hạn thuê từ 30 thành 45 tháng.

Để cụ thể hóa thỏa thuận nguyên tắc ngày 01/3/2002 giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương và Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc và Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002 ngày 10/4/2002, Công ty cho thuê tài chính đã ký “ Hợp đồng ủy thác nhập khẩu”. Theo đó Công ty cho thuê tài chính ủy thác cho Công ty quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương ký kết hợp đồng mua bán với nhà cung ứng là Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc và làm các thủ tục nhập khẩu thiết bị màn hình LED nêu trên.

- Phí ủy thác 0%.

Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng ủy thác nhập khẩu.

Ngày 12/4/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã ký hợp đồng mua bán bảng thông tin LED với người bán là Công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc. Hợp đồng quy định giá trị màn hình là 311.950 USD, giá trị này bao gồm: Trị giá bảng LED vận chuyển đến Việt Nam, bảo hiểm lắp đặt, chạy thử, phụ tùng thay thế, bảo hành, đào tạo, huấn luyện nhân viên kỹ thuật của bên mua trong vòng hai tháng và là giá C.I.F đến cảng Việt Nam.

Bên mua chịu trách nhiệm chuẩn bị địa điểm cho bảng LED xây dựng, lắp đặt giá đỡ bảng LED theo thiết kế; nguồn điện với công suất yêu cầu được kéo đến địa điểm lắp đặt, chuẩn bị diện tích để làm phòng điều khiển cho màn hình…

Bên bán có trách nhiệm: lắp đặt màn hình trên giá đỡ do bên mua chuẩn bị, hiệu chỉnh, chạy thử và bàn giao bảng LED cho bên mua ở trạng thái hoạt động tốt phù hợp với các thông số của màn hình ghi trong báo giá chính thức của bên bán. Việc lắp đặt phải được hoàn thành 10 ngày kể từ khi bảng LED được vận chuyển đến địa điểm lắp đặt.

Thời gian bảo hành là 02 năm kể từ ngày hoàn thành lắp đặt và bàn giao bảng LED cho bên mua. Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay những hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí.

Hai bên thỏa thuận thanh toán bằng L/C không hủy ngang 100% giá trị của màn hình là 311.950 USD mở tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Về quy trình thanh toán sẽ được phân chia làm 04 lần:

+ Lần 1: Bên bán được quyền rút 50% giá trị L/C sau khi trình bộ chứng từ sạch.

+ Lần 2: Bên bán được quyền rút 40% giá trị L/C khi bàn giao xong phụ tùng thay thế.

+ Lần 3: Bên bán được quyền rút 55 giá trị L/C sau 9 tháng.

+ Lần 4: Bên bán được quyền rút nốt 5% giá trị L/C sau 12 tháng.

Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranh chấp sẽ chọn trọng tài thương mại quốc tế là cơ quan tài phán.

Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký biên bản bàn giao lắp đặt màn hình LED. Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt phù hợp với quy định của hợp đồng mua bán và hợp đồng cho thuê tài chính. Màn hình đã chạy thử tốt.

Ngày 12/7/2002 Công ty cho thuê tài chính cũng đã làm thủ tục mua bảo hiểm cho màn hình LED nêu trên với tổn số phí là 82.119.847 VNĐ. Thời hạn bảo hiểm là 30 tháng kể từ ngày 12/7/2002 đến hết ngày 12/01/2005 (có giấy chứng nhận bảo hiểm thiết bị điện tử cấp ngày 12/7/2002). Phía Công ty Thái Bình Dương đã làm các thủ tục thanh toán tiền phí bảo hiểm đối với Công ty cho thuê tài chính.

Về thanh toán: Công ty cho thuê tài chính đã thanh toán cho Công ty Kumgang 90% giá trị L/C = 4.304.000.000 VNĐ, còn lại 10% = 31.000 USD do còn đang trong thời gian bảo hành và hợp đồng mua bán đang còn hiệu lực chưa thanh toán (trong số tiền 4.304.000.000 VNĐ phía Công ty Thái Bình Dương trả 1.890.000.000 VNĐ, phía thuê tài chính trả 2.496.000.000 VNĐ).

Cuối tháng 11/2002 màn hình LED bắt đầu bộc lộ nhiều sai sót về chất lượng. Bên bán là Công ty Kumgang đã cho thay thế, sửa chữa nhưng màn hình vẫn bị hỏng liên tiếp. Nguyên nhân gây ra sự cố màn hình cũng đã được Công ty Kumgang xác định là do màn hình không khép kín và để nước mưa chảy vào trong gây hỏng các đèn điôt và các bộ mạch điện bên trong. Công ty Thái Bình Dương đã làm đơn đề nghị bảo hiểm Hà Nội phải đền bù thiệt hại, sau khi giám định, bảo hiểm Hà Nội đã có văn bản số 72.HN/KT03 ngày 2/7/2003 từ chối đền bù với lý do: “ Tổn thất là do chất lượng linh kiện không phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam…Tổn thất này không thuộc phạm vi bảo hiểm mà thuộc trách nhiệm của người bán sản phẩm”.

Ngày 30/7/2003 Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã tiến hành khởi kiện tập đoàn Công ty Kumgang AD Systen Corporation ra Trung tâm trọng tài quốc tế, bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, yêu cầu: Công ty Kumgang phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các thiệt hại xảy ra do chất lượng hàng cung cấp quá kém. Công ty Kumgang có lỗi với tư cách là nhà thiết kế, sản xuất lắp đặt đã không tính đến điều kiện làm việc ngoài trời của màn hình LED tại Việt Nam. Công ty Kumgang còn có lỗi vi phạm nghĩa vụ bảo hành khi được thông báo chất lượng màn hình, Công ty Kumgang thường xuyên trả lời chậm trễ. Các sự cố màn hình không được khắc phục kịp thời dẫn đến hoạt động kinh doanh của Công ty Thái Bình Dương bị thiệt hại nhiều. Do đó buộc Công ty Kumgang phải nhận lại màn hình và hoàn trả lại tiền mua màn hinh cho Công ty Thái Bình Dương, đồng thời còn phải chịu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại và theo hợp đồng mua bán giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương với công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc.

Ngày 03/6/2004 Trung tâm trọng tài quốc tế đã ra phán quyết vụ kiện số 10/03 theo đó tập đoàn Kumgang phải hoàn trả số tiền mua màn hình là 280.755 USD và bồi thường thiệt hại thực tế cho Công ty Thái Bình Dương là 573.837.593 VNĐ. Công ty Kumgang đã có đơn gửi đến Tòa án xin hủy phán quyết của Trọng tài. Ngày 10/01/2004 Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao đã xử bác đơn yêu cầu xin hủy quyết định trọng tài vụ kiện số 10/03 được công bố ngày 03/6/2004 của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương với Công ty Kumgang AD System Corporation – Hàn Quốc có hiệu lực.

Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã gửi đơn đến cơ quan thi hành án Hà Nội. Ngày 28/3/2005 Phòng thi hành án Hà Nội đã ra quyết định thi hành án số 48/2005 cho thi hành phán quyết của Trọng tài vụ kiện số 10/03 nêu trên. Tuy nhiên ngày 11/7/2005 cơ quan thi hành án Hà Nội đã ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án vì lý do bên phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.

Quan điểm của nguyên đơn:

Công ty Thái Bình Dương đã gửi nhiều công văn đến Công ty cho thuê tài chính và Công ty bảo hiểm Hà Nội yêu cầu giải quyết sự cố của màn hình, nhưng Công ty bảo hiểm Hà Nội đã từ chối trách nhiệm bồi thường mà lại cho rằng lỗi của nhà cúng ứng phải bảo hành. Nguyên đơn cho rằng Công ty cho thuê tài chính đã mua bảo hiểm không đầy đủ, cụ thể là không mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình LED. Công ty cho thuê tài chính đã vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình. Vì vậy, việc không nhận được tiền bồi thường của Công ty bảo hiểm là do lỗi của Công ty cho thuê tài chính, Công ty cho thuê tài chính phải tự chịu trách nhiệm.

- Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã đề nghị được chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn do màn hình LED bị hỏng không thể phục hồi sửa chữa được và không mang lại bất kỳ doanh thu nào nhưng Công ty cho thuê tài chính không những không cho chấm dứt hợp đồng mà còn tiếp tục đòi tiền thuê cũng với lãi suất nợ quá hạn.

Công ty Thái Bình Dương cũng đã yêu cầu Công ty cho thuê tài chính với tư cách là chủ sở hữu của màn hình LED phải có trách nhiệm thu hồi tiền từ tập đoàn Kumgang theo phán quyết của trọng tài quốc tế, song Công ty cho thuê tài chính đã từ chối trách nhiệm.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, Công ty Thái Bình Dương đã buộc phải làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu được giải quyết như đã nêu tại phần đơn khởi kiện.

Quan điểm của bị đơn:

- Đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn theo Điều 12 khoản 3 của hợp đồng với điều kiện bên thuê phải trả đủ số tiền đã thuê theo hợp đồng theo Điều 12 khoản 4 của hợp đồng cho thuê tài chính và theo quy định tại Điều 28 khoản 4 của Nghị định số 16/NĐ-CP.

- Công ty cho thuê tài chính đã làm hết trách nhiệm về việc làm thủ tục mua bảo hiểm, cụ thể là mua bảo hiểm thiết bị điện tử tức là bảo hiểm đối với tài sản cho thuê theo đúng quy định trong hợp đồng. Đối với vấn đề màn hình LED hỏng là do chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất và được thỏa thuận trong điều kiện bảo hành, không phải lỗi của Công ty cho thuê tài chính. Vấn đề bảo hành đã được giải quyết trong phán quyết của trọng tài.

- Phán quyết trọng tài đã có hiệu lực pháp luật, người thi hành phải là Công ty Thái Bình Dương và tập đoàn Kumgang. Công ty cho thuê tài chính không thể thi hành được và không có nghĩa vụ đòi nợ Công ty Kumgang.

- Về việc xin miễn lãi, theo quy chế của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, thì Công ty cho thuê tài chính và Ngân hàng có thể xem xét miễn lãi nhưng phải có hồ sơ trình bày cụ thể. Phía Công ty Thái Bình Dương chưa bao giờ lập hồ sơ xin miễn lãi để Công ty cho thuê tài chính xem xét. Vì các lý do trên đề nghị Tòa án xem xét:

+ Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương.

+ Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương phải trả hết tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính.

Luật sư Nguyễn Hoàn Thành – Đoàn luật sư Hà Nội nêu quan điểm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương như sau:

- Theo Nghị định số 16/CP của Chính phủ quy định bản chất của hợp đồng cho thuê tài chính là việc cho thuê máy móc, thiết bị, tài sản. Đây là hoạt động tín dụng có phân chia rủi ro cho các bên. Vì vậy, đã quy định trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về bên cho thuê. Điều kiện để chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính là tài sản bị hỏng, không sửa chữa được là phù hợp với quy định của Nghị định 16/CP của Chính phủ.

Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC và màn hình LED đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp. Như vậy quyền sở hữu màn hình LED thuộc về Công ty tài chính. Trách nhiệm phải mua bảo hiểm của Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện đầy đủ do cách hiểu không đúng. Nếu trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương không chấp nhận phí bảo hiểm thì chẳng lẽ Công ty tài chính đã không mua bảo hiểm sao?

Ngoài ra, Công ty cho thuê tài chính đã không mua bảo hiểm lắp đặt mà theo Nghị định số 52/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định việc lắp đặt là bắt buộc phải mua bảo hiểm. Trong trường hợp này Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện việc mua bảo hiểm lắp đặt và màn hình LED bị hỏng hoàn toàn do lỗi của việc lắp đặt.

Đề nghị xem xét sự khác nhau giữa Công ty cho thuê tài chính với các tổ chức tín dụng và ngân hàng. Chính Công ty cho thuê tài chính cũng thừa nhận là tại đăng ký kinh doanh của Công ty không có lĩnh vực cho vay tiền tệ. Điều này cũng phù hợp với Nghị định 16/CP của Chính phủ. Như vậy cho thuê tài chính là cho thuê một tài sản và được trả một khoản theo từng thời kỳ để đảm bảo hết thời gian thuê thì người đi thuê đã trả cho người cho thuê hết giá trị tài sản và một khoản lợi nhuận.

Tại bản án số 106/2005/KD-TM-ST ngày 08, 06, 15/12/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ Điều 29 khoản 1 điểm e; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 61; 62; 63 Luật các tổ chức tín dụng.

Căn cứ Điều 27 khoản 3; Điều 28 khoản 4 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ.

Căn cứ Điều 15 Nghị định số 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án quyết định:

1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữa Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 15/12/2005.

2- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn và quảng cáo Thái Bình Dương phải trả cho Công ty cho thuê tài chính toàn bộ số tiền còn lại là 2 tỷ đồng tiền gốc và phí thuê tài chính là 584.020.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cho thuê tài chính đối với khoản lãi quá hạn trong vụ kiện này.

Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/9/2002 của Công ty cho thuê tài chính đối với màn hình LED hết hiệu lực từ ngày 20/12/2004. Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương có quyền thực hiện phán quyết số 10/03 ngày 03/6/2004 của Trung tâm trong tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VIAC).

3- Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự.

Ngoài ra án sơ thẩm còn có quyết dịnh về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/12/2005, bị đơn – Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương có kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 106/2005/KDTM-ST ngày 15/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, ý kiến củ các Luật sư và các đương sự;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương (gọi tắt là Công ty Thái bình Dương – Bên B) vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện. Cho tới khi phiên tòa hôm nay bên nguyên và bị đơn đều khẳng định Hợp đồng số 44/20002/HĐ-CTTC ký ngày 10/4/2002 giữa 2 bên là hợp đồng cho thuê tài chính được ký trên cơ sở tự nguyện và thiện chí.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa phúc thẩm xử xác định:

- Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC chấm dứt trước thời hạn kể từ ngày màn hình LED gặp sự cố không thể khắc phục được và Công ty TBD nộp đơn khởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ngày 30/4/2003.

- Công ty cho thuê tài chính (Bên A) phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương 2.386.365.843 đồng, do bên cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ.

Đại diện của Công ty cho thuê tài chính đề nghị:

- Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương.

- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dương phải trả hết tiền cho Công ty cho thuê tài chính.

1- Xét yêu cầu của nguyên đơn xin chấm dứt Hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn và miễn lãi cho màn hình hỏng không thể phục hồi sửa chữa được và thời điểm chấm dứt hợp đồng là ngày nguyên đơn gửi đơn ra Trung tâm trọng tài quốc tế.

Án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều 17 Nghị định 16/2006/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ và chính các thỏa thuận của hai bên ký kết tại hợp đồng khẳng định Hợp đồng cho thuê tài chính vì Công ty Thái Bình Dương là hợp đồng không hủy ngang.

Tại phiên tòa phúc thẩm hai bên đều đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính nói trên. Theo quy định ở điểm 3, 4 Điều 27 và khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/NĐ-CP; ý kiến đó là đúng pháp luật, án sơ thẩm xử xác nhận việc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính kể từ ngày xử sơ thẩm là không có sơ sở. Mà cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn lấy ngày Công ty cho thuê tài chính biết tài sản cho thuê hỏng không thể phục hồi sửa chữa và ủy quyền cho Công ty Thái Bình Dương gửi đơn đến Trung tâm trọng tài quốc tế. Đó là ngày 24/7/2003 chứ không phải là ngày 30/4/2003 như đơn khởi kiện của Công ty Thài Bình Dương.

2- Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài chính có trách nhiệm thu hồi nợ từ Công ty Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương 2386.365.843 đồng do bên cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ.

Án sơ thẩm cho rằng theo quy định ở các Điều 10, 11 của Hợp đồng cho thuê tài chính thì bị đơn có trách nhiệm mua bảo hiểm, còn bên nguyên đơn có trách nhiệm thanh toán tiền phí bảo hiểm. Hợp đồng chỉ thỏa thuận bên A làm thủ tục mua bảo hiểm đối với tài sản thuê, ngoài ra không thỏa thuận mua loại hình bảo hiểm nào khác. Ngày 12/7/2002 bên A đã làm thủ tục mua bảo hiểm thiết bị điện tử, chuyển cho bên B bản hợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận cảo hiểm thiết bị điện tử, ngày19/7/2002 bên A gửi cho bên B giấy đề nghị chuyển tiền phí bảo hiểm tài sản, trước các sự kiện trên Công ty Thái Bình Dương không có ý kiến gì.

Ngày 02/7/2003 Công ty bảo hiểm Hà Nội có quan điểm về việc hư hỏng màn hình LED “Tổn thất này không thuộc phạm vi bảo hiểm mà thuộc trách nhiệm của người bán sản phẩm”.

Tại bản hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002 có ghi thỏa thuận tại điểm 7 Điều 10 như sau: “Bên A không chịu trách nhiệm về việc tài sản không được giao hoặc giao không đúng với các điều kiện do bên B đã thỏa thuận với bên cung ứng”.

Như vậy với lập luận trên án sơ thẩm kết luận là Công ty cho thuê tài chính đã mua bảo hiểm tài sản là thực hiện đúng quy định của hợp đồng; Công ty cho thuê tài chính không vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm, kết luận đó là đúng pháp luật.

Do đó yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương kiện đòi Công ty cho thuê tài chính 2.386.365.843 đồng do không mua bảo hiểm đầy đủ là không thể chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty cho thuê tài chính khẳng định chưa bào giờ kiện đòi Công ty Thái Bình Dương về khoản tiền gốc và lãi trong Hợp đồng cho thuê tài chính, án sơ thẩm phán quyết buộc Công ty Thái Bình Dương phải bồi thường cho Công ty cho thuê tài chính là đã giải quyết việc mà đương sự không yêu cầu trái với quy định ở khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Cần hủy phán quyết về phần này của án sơ thẩm.

- Về yêu cầu Công ty cho thuê tài chính phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn Kumgang theo phán quyết trọng tài đã có hiệu lực pháp luật.

Như phân tích trên, Công ty Thái Bình Dương phải chịu trách nhiệm về sản phẩm khi ký hợp đồng, nhận tài sản với nhà cung ứng. Mặt khác theo phán quyết của trọng tài Công ty Thái Bình Dương là nguyên đơn trong vụ kiện và Công ty Kumgang là người phải trả tiền cho Công ty Thái Bình Dương. Công ty cho thuê tài chính không phải là chủ thể trong hợp đồng mua bán và trong vụ kiện trước trọng tài.

Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài chính thực hiện quyền quản lý tài sản là màn hình LED mà hiện nay Công ty Thái Bình Dương đang phải chi phí quản lý. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn không có trong đơn khởi kiện và án sơ thảm chưa xử nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự

QUYẾT ĐỊNH

Sửa án sơ thẩm

Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 29; khoản 1 Điều 5; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự

Điều 61; 62; 63 Luật Các tổ chức tín dụng

Khoản 3 Điều 27, khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ

Xử::

1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữa Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 24/7/2003.

2- Bác yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kiện đòi Công ty cho thuê tài chính 2.386.365.843 đồng.

3- Hủy quyết định của án sơ thẩm phần buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương phải trả cho Công ty tài chính 2 tỷ đồng tiền gốc và phí thuê tài chính là 584.020.000 đồng vì án sơ thẩm đã giải quyết ngoài phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Công ty Thái Bình Dương không phải chịu án phí kinh tế phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


277
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 102/2006/KTPT ngày 09/05/2006 về việc tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

Số hiệu:102/2006/KTPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 09/05/2006
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về