Trường hợp vụ án hình sự kết thúc điều tra thì trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định thế nào?

Phạm Thị Xuân Hương 18,719 lượt xem
17:37 | 15/04/2026
Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự người bào chữa có quyền yêu cầu sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến họ không? Trách nhiệm của Cơ quan điều tra khi kết thúc điều tra vụ án hình sự được quy định như thế nào? Trường hợp kết thúc điều tra vụ án hình sự thì trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định thế nào? Câu hỏi của chị Linh đến từ Cà Mau.
Nội dung chính
  1. Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự người bào chữa có quyền yêu cầu sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến họ không?
  2. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra khi kết thúc điều tra vụ án hình sự được quy định như thế nào?
  3. Trường hợp kết thúc điều tra vụ án hình sự thì trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định thế nào?

Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự người bào chữa có quyền yêu cầu sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến họ không?

Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự người bào chữa có quyền yêu cầu sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến họ không?

Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự người bào chữa có quyền yêu cầu sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến họ không?

(hình ảnh từ Internet)

Căn cứ Điều 82 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án
1. Sau khi kết thúc điều tra, nếu có yêu cầu đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.
2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo quy định này, sau khi kết thúc điều tra, người bào chữa có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bố trí thời gian để họ sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa trong hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm của Cơ quan điều tra khi kết thúc điều tra vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Căn cứ Điều 232 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bị thay thế bởi khoản 57 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 202 quy định như sau:

Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.
4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Chiếu theo quy định này, khi kết thúc điều tra vụ án hình sự Cơ quan điều tra có trách nhiệm:

- Cơ quan điều tra có trách nhiệm ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

- Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho những cơ quan /người sau:

- Viện kiểm sát có thâm quyền;

- Giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can;

- Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa;

Đồng thời thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Trường hợp kết thúc điều tra vụ án hình sự thì trách nhiệm của Kiểm sát viên được quy định thế nào?

Căn cứ Điều 63 Quyết định 111/QĐ-VKSTC năm 2020 quy định như sau:

Kiểm sát việc kết thúc điều tra
1. Chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án rất nghiêm trọng, 20 ngày đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án, Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu và phối hợp Điều tra viên đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án; nếu thấy cần phải tiếp tục điều tra thì thống nhất các thủ tục báo cáo lãnh đạo hai bên để đề nghị và quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, tạm giam bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp hoặc Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội danh, thì Kiểm sát viên phải trao đổi với Điều tra viên để báo cáo Thủ trưởng hai đơn vị tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.
2. Kiểm sát viên, Điều tra viên phải lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan điều tra, hồ sơ kiểm sát.

Theo đó, khi kết thúc điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên có trách nhiệm:

- Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu và phối hợp Điều tra viên đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án trong thời hạn sau:

+ Chậm nhất 10 ngày đối với vụ án ít nghiêm trọng và nghiêm trọng;

+ Chậm nhất 15 ngày đối với vụ án rất nghiêm trọng;

+ Chậm nhất 20 ngày đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án.

- Nếu thấy cần phải tiếp tục điều tra thì Điều tra viên và Kiểm sát viên thống nhất các thủ tục báo cáo lãnh đạo hai bên để đề nghị và quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, tạm giam bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

- Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp hoặc Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội danh, thì Kiểm sát viên phải trao đổi với Điều tra viên để báo cáo Thủ trưởng hai đơn vị tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật.

- Kiểm sát viên, Điều tra viên phải lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ nghiệp vụ của Cơ quan điều tra, hồ sơ kiểm sát.

Tại Điều 59 Quyết định 06/2026/QĐ-VKSTC quy định như sau:

- Chậm nhất 10 ngày đối với vụ án về tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án về tội rất nghiêm trọng, 20 ngày đối với vụ án về tội đặc biệt nghiêm trọng, trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều tra vụ án, kiểm sát viên chủ động yêu cầu và phối hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên, Cán bộ điều tra báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Cấp trưởng, Cấp phó Cơ quan có thẩm quyền điều tra kết thúc điều tra vụ án; nếu thấy cần phải tiếp tục điều tra thì thống nhất các thủ tục báo cáo lãnh đạo hai bên để đề nghị và quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vụ án về tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, vụ án dự kiến kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt bị can hoặc Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội danh thì Kiểm sát viên trao đối với Điều tra viên để báo cáo lãnh đạo hai cơ quan tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch số 05/2025.

- Kiểm sát viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ, tài liệu và lưu hồ sơ kiểm sát.


Logo Thư viện Pháp luật
Phạm Thị Xuân Hương Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là cấm người chưa thành niên phạm tội tiếp xúc với những ai?

Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng tại công đồng được áp dụng với người chưa thành niên phạm tội. Sau đây là quy định chi tiết

Bài viết mới nhất