Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào?

Nguyễn Hoài Bảo Trâm 636 lượt xem
08:39 | 15/07/2025
Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào? Xử lý số biên lai đã thực hiện thông báo phát hành nhưng chưa sử dụng hết có in sẵn địa chỉ sau sáp nhập tỉnh thành ra sao? Biên lai được lập như thế nào để được xem là chứng từ hợp pháp?
Nội dung chính
  1. Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào?
  2. Xử lý số biên lai đã thực hiện thông báo phát hành nhưng chưa sử dụng hết có in sẵn địa chỉ sau sáp nhập tỉnh thành ra sao?
  3. Biên lai được lập như thế nào để được xem là chứng từ hợp pháp?

Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 36 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 24 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP quy định như sau:

Thông báo phát hành biên lai đặt in, tự in
1. Tổ chức thu phí, lệ phí trước khi sử dụng biên lai đặt in, tự in phải lập Thông báo phát hành biên lai và gửi đến cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan quản lý thuế nơi người nộp thuế đóng trụ sở. Thông báo phát hành biên lai gửi cơ quan quản lý thuế theo phương thức điện tử.
2. Phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế
Biên lai do cơ quan quản lý thuế đặt in trước khi bán hoặc cấp lần đầu phải lập thông báo phát hành biên lai. Thông báo phát hành biên lai phải được gửi đến tất cả các Cục Thuế hoặc Cục Hải quan trong cả nước trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập thông báo phát hành và trước khi bán. Khi phát hành biên lai phải đảm bảo không được trùng số biên lai trong cùng ký hiệu.
Trường hợp Cục Thuế hoặc Cục Hải quan đã đưa nội dung Thông báo phát hành biên lai lên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế hoặc Tổng cục Hải quan thì không phải gửi thông báo phát hành biên lai đến Cục Thuế, Cục Hải quan khác.
Trường hợp có sự thay đổi về nội dung đã thông báo phát hành, cơ quan quản lý thuế phải thực hiện thủ tục thông báo phát hành mới theo hướng dẫn nêu trên.
...

Theo đó, phải thông báo phát hành đối với một trong các loại biên lai sau đây:

- Biên lai do cơ quan quản lý thuế đặt in trước khi bán

- Biên lai được cấp lần đầu.

Ngoài ra, việc thông báo phát hành biên lai phải được gửi đến tất cả các Cục Thuế hoặc Cục Hải quan trong cả nước trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập thông báo phát hành và trước khi bán. Khi phát hành biên lai phải đảm bảo không được trùng số biên lai trong cùng ký hiệu.

Lưu ý: Trường hợp có sự thay đổi về nội dung đã thông báo phát hành, cơ quan quản lý thuế phải thực hiện thủ tục thông báo phát hành mới theo hướng dẫn nêu trên.

Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào?

Thời hạn thực hiện thông báo phát hành biên lai của cơ quan quản lý thuế được quy định như thế nào? (Hình từ Internet)

Xử lý số biên lai đã thực hiện thông báo phát hành nhưng chưa sử dụng hết có in sẵn địa chỉ sau sáp nhập tỉnh thành ra sao?

Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 36 Nghị định 123/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b khoản 24 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP quy định sau khi thực hiện sáp nhập tỉnh thành dẫn đến thay đổi tên, địa chỉ khu vực thì số biên lai đã thực hiện thông báo phát hành nhưng chưa sử dụng hết có in sẵn tên, địa chỉ được xử lý như sau:

(1) Đối với trường hợp sau sáp nhập tỉnh thành không làm thay đổi mã số thuế và cơ quan thuế quản lý trực tiếp:

- Nếu tổ chức thu phí, lệ phí vẫn có nhu cầu sử dụng biên lai đã đặt in thì thực hiện đóng dấu tên, địa chỉ mới vào bên cạnh tiêu thức tên, địa chỉ đã in sẵn để tiếp tục sử dụng và gửi thông báo điều chỉnh thông tin tại Thông báo phát hành biên lai đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo Mẫu số 02/ĐCPH-BLG Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP.

(2) Trường hợp có sự thay đổi địa chỉ kinh doanh dẫn đến thay đổi cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp:

- Nếu tổ chức thu phí, lệ phí có nhu cầu tiếp tục sử dụng số biên lai đã phát hành chưa sử dụng hết thì phải nộp báo cáo tình hình sử dụng biên lai với cơ quan quản lý thuế nơi chuyển đi và đóng dấu địa chỉ mới lên biên lai, gửi bảng kê biên lai chưa sử dụng theo Mẫu số 02/BK-BLG Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP và thông báo điều chỉnh thông tin tại thông báo phát hành biên lai đến cơ quan thuế nơi chuyển đến (trong đó nêu rõ số biên lai đã phát hành chưa sử dụng, sẽ tiếp tục sử dụng).

- Nếu tổ chức không có nhu cầu sử dụng số biên lai đã phát hành nhưng chưa sử dụng hết thì thực hiện hủy các số biên lai chưa sử dụng và thông báo kết quả hủy biên lai với cơ quan quản lý thuế nơi chuyển đi và thực hiện thông báo phát hành biên lai mới với cơ quan quản lý thuế nơi chuyển đến.

Biên lai được lập như thế nào để được xem là chứng từ hợp pháp?

Căn cứ khoản 2 Điều 32a Nghị định 123/2020/NĐ-CP được bổ sung bởi khoản 19 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP quy định như sau:Quy định về lập và ủy nhiệm lập biên lai

Quy định về lập và ủy nhiệm lập biên lai
1. Lập biên lai
Nội dung trên biên lai phải đúng với nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; biên lai phải được lập theo thứ tự liên tục từ số nhỏ đến số lớn.
Nội dung lập trên biên lai phải được thống nhất trên các liên có cùng một số biên lai, nếu ghi sai, hỏng thì người thu tiền không được xé khỏi cuống hoặc nếu đã xé thì phải kèm theo tờ biên lai đã ghi sai, hỏng; tổ chức thu phí, lệ phí khi lập biên lai phải đóng dấu của tổ chức thu phí, lệ phí vào góc trên, bên trái liên 2 của biên lai (liên giao cho người nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước).
2. Biên lai được lập theo đúng hướng dẫn tại khoản 1 Điều này là chứng từ hợp pháp để thanh toán, hạch toán và quyết toán tài chính.
Trường hợp không đáp ứng các hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì không có giá trị thanh toán và không được hạch toán, quyết toán tài chính.
...

Theo đó, biên lai được lập theo đúng hướng dẫn sau đây sẽ được xem là chứng từ hợp pháp để thanh toán, hạch toán và quyết toán tài chính.

- Nội dung trên biên lai phải đúng với nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; biên lai phải được lập theo thứ tự liên tục từ số nhỏ đến số lớn.

- Nội dung lập trên biên lai phải được thống nhất trên các liên có cùng một số biên lai, nếu ghi sai, hỏng thì người thu tiền không được xé khỏi cuống hoặc nếu đã xé thì phải kèm theo tờ biên lai đã ghi sai, hỏng; tổ chức thu phí, lệ phí khi lập biên lai phải đóng dấu của tổ chức thu phí, lệ phí vào góc trên, bên trái liên 2 của biên lai (liên giao cho người nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước).

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Hoài Bảo Trâm Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Bài viết mới nhất