Sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như thế nào so với trước đây?

Nguyễn Thị Hậu 383 lượt xem
15:13 | 29/08/2026
Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026. Dưới đây là những điểm sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế.
Nội dung chính
  1. Sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như thế nào so với trước đây?
  2. Nghị định 252/2026/NĐ-CP bãi bỏ những nội dung nào?
  3. Nội dung quản lý thuế gồm những gì?

Sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như thế nào so với trước đây?

Nghị định 252/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý thuế được Chính phủ ban hành ngày 30/06/2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2026.

Theo đó, tại Công văn 5061/CT-CS năm 2026 Cục Thuế giới thiệu một số điểm mới của Nghị định 252/2026/NĐ-CP.

Cụ thể những điểm sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như sau:

Sửa đổi, bổ sung các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế; cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế với các cơ quan, tổ chức có liên quan; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và tổ chức thực hiện cưỡng chế, góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi nợ thuế, cụ thể:

(1) Quy định chung về cưỡng chế (Điều 65):

- Bổ sung quy định chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức có số tiền thuế nợ dưới 3 triệu đồng, hộ kinh doanh, cá nhân có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, trừ trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (điểm b khoản 3).

- Sửa đổi quy định quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (điểm c khoản 4). Quyết định cưỡng chế sẽ được chấm dứt hiệu khi NNT nộp đủ số tiền thuế nợ bị cưỡng chế hoặc thuộc trường hợp chấm dứt theo quy định (điểm d khoản 4).

Trước đây, quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản có hiệu lực trong 30 ngày, còn quyết định cưỡng chế bằng các biện pháp khác có hiệu lực trong 01 năm.

- Sửa đổi thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế, theo đó Nghị định quy định cho phép giao quyền cho cấp phó ban hành quyết định cưỡng chế (điểm b khoản 6).

Trước đây, việc ban hành quyết định cưỡng chế thuộc thẩm quyền của cấp trưởng, cấp trưởng chỉ giao quyền cho cấp phó khi vắng mặt tại cơ quan.

- Bổ sung quy định về việc tổ chức được Nhà nước giao quản lý thu khoản thu khác được kiến nghị cơ quan thuế thực hiện biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn. Các cơ quan được giao quản lý thu có trách nhiệm xác định số tiền còn nợ, tiền chậm nộp, ban hành thông báo đôn đốc nộp trước khi kiến nghị cơ quan thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn (khoản 7).

Việc bổ sung quy định này nhằm tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế và các tổ chức được Nhà nước giao quản lý thu khoản thu khác trong việc thu hồi các khoản nợ.

(2) Về cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản (Điều 66):

- Sửa đổi, bổ sung thêm các loại tài khoản ngân hàng không thực hiện cưỡng chế bao gồm: tài khoản nhận kinh phí bảo trì nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở; tài khoản là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; tài khoản quỹ bình ổn giá xăng dầu theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu (khoản 2).

Trước đây, chỉ quy định không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài khoản nhận nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi tại tổ chức tín dụng.

Việc sửa đổi quy định này nhằm bảo đảm biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của người nộp thuế, không áp dụng đối với các tài khoản mà người nộp thuế chỉ được giao quản lý, sử dụng hoặc giữ hộ nguồn tiền của Nhà nước, người dân hoặc tổ chức khác, qua đó bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan và phù hợp với bản chất pháp lý của từng loại tài khoản.

- Bổ sung quy định về việc rà soát, cập nhật thông tin tài khoản của người nộp thuế sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế. Theo đó, sau khi cơ quan quản lý thuế thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm tiếp tục rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu. Trường hợp phát hiện người nộp thuế phát sinh tài khoản mới tại tổ chức tín dụng thì cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định cưỡng chế bổ sung đối với các tài khoản mới phát sinh (điểm c khoản 4).

Việc bổ sung quy định này nhằm bảo đảm cơ quan quản lý thuế kịp thời áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với các tài khoản mới phát sinh của người nộp thuế trong thời gian quyết định cưỡng chế còn hiệu lực, tránh bỏ sót nguồn tiền có thể thu hồi.

- Sửa đổi quy định về quyết định cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, quyết định cưỡng chế bao gồm đồng thời cả hai nội dung: phong tỏa tài khoản và trích tiền từ tài khoản. Theo đó, ngay sau khi nhận được quyết định cưỡng chế, tổ chức tín dụng có trách nhiệm phong tỏa tài khoản của người nộp thuế, đồng thời thông báo số dư tài khoản cho cơ quan thuế để ban hành lệnh thu. Trên cơ sở lệnh thu của cơ quan thuế, tổ chức tín dụng thực hiện trích chuyển số tiền bị cưỡng chế vào tài khoản thu ngân sách nhà nước ngay trong ngày hoặc chậm nhất là ngày làm việc tiếp theo. Toàn bộ quá trình trao đổi thông tin, quyết định cưỡng chế và lệnh thu giữa cơ quan thuế với tổ chức tín dụng được thực hiện bằng phương thức điện tử (khoản 5).

Việc sửa đổi quy định này nhằm chuẩn hóa quy trình cưỡng chế tài khoản theo hướng điện tử, tăng cường kết nối, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế và tổ chức tín dụng, rút ngắn thời gian xử lý, bảo đảm việc phong tỏa và trích chuyển tiền được thực hiện kịp thời, chính xác.

(3) Về cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (Điều 67):

- Bỏ quy định cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho các đối tượng này.

- Sửa đổi quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người lao động có hợp đồng từ 06 tháng xuống 03 tháng, bảo đảm thống nhất với quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động có hợp đồng từ 03 tháng trở lên (điểm b khoản 1).

(4) Về cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn (Điều 69):

- Sửa đổi quy định về sử dụng hóa đơn theo từng lần phát sinh đối với người nộp thuế đang bị cưỡng chế hóa đơn, người nộp thuế phải nộp 18% tổng giá trị thanh toán trên hóa đơn; đồng thời bổ sung cơ chế tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền này. Theo đó, người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế một tài khoản để thực hiện tạm dừng cưỡng chế; thời gian tạm dừng tối đa 10 ngày làm việc, số tiền được tạm dừng cưỡng chế tương ứng tổng giá trị thanh toán của hóa đơn được sử dụng (khoản 4).

Trước đây, người nộp thuế phải nộp 18% doanh thu trên hóa đơn trước khi được sử dụng hóa đơn theo từng lần phát sinh.

Việc sửa đổi, bổ sung này giúp người nộp thuế có thêm dòng tiền để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh khi đã chấp hành đầy đủ quy định về sử dụng hóa đơn trong thời gian bị cưỡng chế.

- Làm rõ quy định về cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn đối với người nộp thuế tại trụ sở chính trong trường hợp cơ quan thuế quản lý trực tiếp chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh không đủ điều kiện hoặc không thể thực hiện biện pháp cưỡng chế (khoản 6).

(5) Về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của người nộp thuế bị cưỡng chế do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (cưỡng chế bên thứ ba) (Điều 70):

- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba; quy định áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba khi cơ quan thuế có đủ căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế (khoản 1).

Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.

- Sửa đổi quy định về trách nhiệm của bên thứ ba, trường hợp bên thứ ba không thực hiện nộp thay cho người nộp thuế hoặc không chuyển giao tài sản thì bị xử phạt vi phạm hành chính (điểm c khoản 5).

Trước đây, bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ nộp thay cho người nộp thuế bị cưỡng chế thì bên thứ ba sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế.

- Bổ sung quy định về cưỡng chế đối với trường hợp bên thứ ba đang nắm giữ tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế. Theo đó, trường hợp tài sản không phải là khoản nợ đến hạn phải trả hoặc tiền của người nộp thuế thì việc cưỡng chế được thực hiện theo quy định về kê biên tài sản và bán đấu giá tài sản kê biên (điểm b khoản 4).

- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế đối với bên thứ ba, quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi bên thứ ba đã nộp đủ số tiền theo quyết định cưỡng chế (điểm d.2 khoản 4 Điều 65).

Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ.

(6) Về cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên (Điều 71):

- Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Nghị định quy định áp dụng ngay biện pháp này khi cơ quan thuế có đủ căn cứ và thông tin hợp pháp về tài sản thuộc sở hữu của người nộp thuế bị cưỡng chế (khoản 1).

Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.

- Bổ sung quy định để rõ phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan thuế và UBND trong việc tổ chức thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên. Theo đó, cơ quan thuế thực hiện xác minh tài sản, lập biên bản xác định tài sản thuộc diện kê biên và yêu cầu người nộp thuế cung cấp hồ sơ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản; UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc kê biên và bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định sau khi nhận được văn bản đề nghị của cơ quan thuế (khoản 4, khoản 5).

- Sửa đổi quy định về xử lý số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản kê biên, ưu tiên thanh toán chi phí cưỡng chế trước khi nộp tiền thuế nợ (điểm b khoản 7).

Trước đây, số tiền thu được được ưu tiên nộp tiền thuế nợ trước, sau đó mới thanh toán chi phí cưỡng chế.

- Sửa đổi quy định về chấm dứt hiệu lực quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên, quyết định cưỡng chế chấm dứt hiệu lực khi tài sản kê biên đã được bán đấu giá và số tiền thu được đã được xử lý theo quy định (điểm d.3 khoản 4 Điều 65).

Trước đây, quyết định cưỡng chế chỉ chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế nợ.

(7) Về cưỡng chế bằng biện pháp nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản (Điều 72):

Bổ sung biện pháp cưỡng chế mới được quy định tại Luật Quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các điều kiện sau:

- Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và người nộp thuế không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

- Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó theo quy định trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu được tiền thuế nợ.

(8) Về cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy phép (Điều 73):

Sửa đổi quy định về trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép (tại khoản 1) gồm: (i) người nộp thuế đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó từ 03 năm trở lên nhưng vẫn không thu được tiền thuế nợ (trừ doanh nghiệp, hợp tác xã đã nộp đơn đề nghị phá sản); (ii) tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam; (iii) trường hợp Tòa án trả lại đơn yêu cầu hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản.

Trước đây, biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi cơ quan thuế đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ.

Việc sửa đổi này làm rõ đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy phép, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện.

TẢI VỀ Phụ lục giới thiệu điểm mới Nghị định 252/2026/NĐ-CP của Cục Thuế

Sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như thế nào so với trước đây?

Sửa đổi, bổ sung quy định về cưỡng chế nợ thuế theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP như thế nào so với trước đây (Hình từ Internet)

Nghị định 252/2026/NĐ-CP bãi bỏ những nội dung nào?

Theo như Phụ lục giới thiệu điểm mới Nghị định 252/2026/NĐ-CP ban hành kèm Công văn 5061/CT-CS năm 2026 thì: Để đồng bộ với Luật Quản lý thuế năm 2025, các luật chuyên ngành và chủ trương cải cách của Đảng, Quốc hội; đồng thời bãi bỏ các quy định không còn phù hợp hoặc đã được quy định tại văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, Nghị định 252 lược bỏ 10 nhóm nội dung, gồm:

- Lược bỏ quy định về sử dụng mã số định danh cá nhân thay cho mã số thuế do đã được quy định tại Luật Quản lý thuế năm 2025;

- Lược bỏ các quy định liên quan đến thuế khoán, gồm: thời hạn nộp hồ sơ khai thuế khoán; hội đồng tư vấn thuế xã, phường; khai thay, nộp thay đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, để thực hiện chủ trương bãi bỏ thuế khoán theo Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị;

- Lược bỏ các quy định không còn phù hợp với pháp luật chuyên ngành, gồm: quy định về tiền thuê mặt nước và quy định cơ quan thuế không tính, không thông báo tiền thuê đất, tiền sử dụng đất trong khu kinh tế, khu công nghệ cao;

- Lược bỏ toàn bộ các quy định về lệ phí môn bài do việc thu, nộp lệ phí môn bài chấm dứt từ ngày 01/01/2026 theo Nghị quyết số 198/2025/QH15;

- Lược bỏ một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn quản lý, gồm: quy định miễn nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với số thuế phải nộp từ 50.000 đồng trở xuống; quy định về đăng ký, xử lý và cấp chứng từ khấu trừ thuế riêng đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử; quy định cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức;

- Lược bỏ các quy định không còn phù hợp về kỹ thuật lập pháp, như quy định về thanh tra thuế trong thủ tục ấn định thuế và quy định về khai phí, lệ phí của tổ chức thu phí, lệ phí để chuyển giao Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn.

Nội dung quản lý thuế gồm những gì?

Nội dung quản lý thuế được quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Quản lý thuế 2025, bao gồm:

- Đăng ký thuế; khai thuế, tính thuế, khấu trừ thuế; nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; ấn định thuế; hoàn thuế; xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; miễn thuế; giảm thuế; không chịu thuế; không thu thuế; khoanh tiền thuế nợ; xóa tiền thuế nợ; miễn tiền chậm nộp; miễn tiền phạt; tính tiền chậm nộp, không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; nộp dần tiền thuế nợ; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế;

- Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ;

- Quản lý thông tin người nộp thuế;

- Quản lý hóa đơn, chứng từ;

- Kiểm tra thuế; thực hiện biện pháp phòng, chống, ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế; xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế;

- Hợp tác quốc tế về thuế; quản lý thuế theo các điều ước quốc tế về thuế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết, cam kết quốc tế về thuế.

>>> Hướng dẫn phân bổ thuế TNCN theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Thông tư 89/2026/TT-BTC? Trường hợp nào phải phân bổ thuế TNCN?

>>> 27 khoản thu nhập không tính thuế TNCN từ tiền lương, tiền công theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP?

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Thị Hậu Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Thuế - Phí - Lệ Phí Xem thêm

Pháp luật
Nộp tờ khai thuế Quý 3/2026 theo TT89 chưa? Tờ khai thuế GTGT, TNCN theo Thông tư 89 có trên HTKK chưa?

Hiện tại, mẫu tờ khai thuế GTGT, TNCN theo Thông tư 89/2026/TT-BTC chưa được cập nhật trên HTKK 5.8.1. Theo khoản 8 Điều 100 Thông tư 89, NTT tiếp tục sử dụng mẫu và phương thức giao dịch điện tử hệ thống đang hỗ trợ cho đến khi cơ quan thuế thông báo áp dụng thống nhất. NTT cần chủ động theo dõi cập nhật hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện kê khai, nộp hồ sơ đúng thời hạn quy định.

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Chấm dứt ngừng cung cấp điện nước cho cơ sở kinh doanh karaoke tại TPHCM khi không đảm bảo về phòng cháy chữa cháy trong trường hợp nào?

Nghị quyết 57/2026/NQ-HĐND quy định một số trường hợp áp dụng biện pháp ngừng cung cấp điện nước cho cơ sở kinh doanh karaoke tại TPHCM không đảm bảo về phòng cháy chưa cháy. Sau đây là căn cứ để chấm dứt việc áp dụng biện pháp ngừng cung cấp điện nước.

Pháp luật
Hướng dẫn cập nhật thông tin Đảng viên trực tuyến 2026 qua Dịch vụ công, Sổ tay đảng viên, VNeID thế nào? Đảng viên tự cập nhật ra sao?

Nếu đảng viên muốn tự kiểm tra và cập nhật thông tin trong năm 2026, nên bắt đầu tại dichvucong.dcs.vn, đăng nhập bằng VNeID mức độ 2, vào mục thông tin tài khoản đảng viên và kiểm tra thông tin chi bộ sinh hoạt nơi cư trú. Đối với thông tin cá nhân bị sai trong dữ liệu quản lý đảng viên, cần liên hệ cán bộ phụ trách để được điều chỉnh đúng quy trình.