Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì? Ai có trách nhiệm cập nhật thông tin về rủi ro?

Nguyễn Vĩnh Kỳ 283 lượt xem
11:51 | 10/01/2026
Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì? Ai có trách nhiệm cập nhật thông tin về rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng? Nội dung quản lý nhà nước về trẻ em hiện nay đucợ quy định như thế nào?
Nội dung chính
  1. Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì?
  2. Ai có trách nhiệm cập nhật thông tin về rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng?
  3. Nội dung quản lý nhà nước về trẻ em hiện nay được quy định như thế nào?

Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Bộ Quy tắc ứng xử Ban hành kèm theo Quyết định 88/QĐ-BTTTT năm 2025 có quy định như sau:

Một số thuật ngữ
1. Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng (hay còn gọi là “bảo vệ trẻ em trên không gian mạng”, “bảo vệ trẻ em trên môi trường trực tuyến”) là việc thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm cho trẻ em được an toàn khi sử dụng Internet và các dịch vụ trực tuyến, bao gồm các hoạt động giáo dục nhận thức; phòng ngừa, phát hiện, xử lý, ngăn chặn các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng và các nguy cơ khác gây tổn hại cho trẻ em trên môi trường mạng.
2. Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là những yếu tố, những hành vi, nội dung tiêu cực, những nguy cơ mà trẻ em có thể gặp phải khi tham gia hoạt động trên môi trường mạng có khả năng tác động, gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm, quyền riêng tư của trẻ em khi tham gia hoạt động trên môi trường mạng.
3. Nội dung độc hại cho trẻ em trên mạng là những thông tin có thể trực tiếp hoặc có nguy cơ gây tổn hại tới thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển lành mạnh của trẻ em, bao gồm (nhưng không giới hạn) các nội dung sau: thông tin giả mạo, sai sự thật; cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy; miêu tả hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; hàng hóa, dịch vụ bị cấm, các trò chơi, thử thách nguy hiểm và các thông tin khác không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, trái quy định của pháp luật.
4. Xâm hại trẻ em trên không gian mạng là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được thực hiện trên không gian mạng dưới các hình thức: đăng tải bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em trái quy phạm pháp luật; gửi, cung cấp nội dung độc hại cho trẻ em; bắt nạt; bạo lực; bóc lột tình dục, xâm hại tình dục, lừa đảo, mua bán và các hình thức gây tổn hại khác.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên thì ta có thể hiểu rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là những yếu tố, những hành vi, nội dung tiêu cực, những nguy cơ mà trẻ em có thể gặp phải khi tham gia hoạt động trên môi trường mạng có khả năng tác động, gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm, quyền riêng tư của trẻ em khi tham gia hoạt động trên môi trường mạng.

*Trên đây là thông tin về "Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì?"

Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì?

Rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng là gì? (Hình từ internet)

Ai có trách nhiệm cập nhật thông tin về rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng?

Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Bộ Quy tắc ứng xử Ban hành kèm theo Quyết định 88/QĐ-BTTTT năm 2025 thì có nêu rõ rằng:

Quy tắc ứng xử cho cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và giáo viên
1. Tôn trọng quyền tự do cá nhân của trẻ em trên môi trường mạng; quan tâm chăm sóc, lắng nghe ý kiến của trẻ em.
2. Thường xuyên trao đổi với trẻ em để nắm bắt nhu cầu, sở thích của trẻ khi tham gia các hoạt động trên môi trường mạng.
3. Cập nhật thông tin về các rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng và các kiến thức, kỹ năng, công cụ để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
4. Chú ý, hỗ trợ, đồng hành và hướng dẫn trẻ em thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro và đảm bảo an toàn khi tham gia các hoạt động trên môi trường mạng.
5. Giám sát, quản lý việc sử dụng internet của trẻ em, quản lý nội dung trẻ em truy cập, đăng tải và chia sẻ trên môi trường mạng, mối quan hệ của trẻ em trên môi trường mạng.
6. Quan tâm, chú ý tới những thay đổi bất thường của trẻ em để đảm bảo trẻ em luôn được bảo vệ và hỗ trợ kịp thời trên môi trường mạng.
7. Che chở, động viên và giúp đỡ khi trẻ em gặp khó khăn, rắc rối, bị bắt nạt hoặc bị xâm hại trên môi trường mạng.
8. Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng tại gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội. Báo cáo và hướng dẫn trẻ báo cáo tới các cơ quan chức năng tại Khoản 6, Điều 4 khi phát hiện các hành vi xâm hại trẻ em, rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng, nội dung độc hại đối với trẻ em.
9. Lồng ghép các nội dung về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng trong quá trình dạy học, hướng dẫn cho trẻ em.

Theo đó, cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và giáo viên có là những người có trách nhiệm cập nhật thông tin về các rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng và các kiến thức, kỹ năng, công cụ để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Nội dung quản lý nhà nước về trẻ em hiện nay được quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 8 Luật Trẻ em 2016 có quy định về nội dung quản lý nhà nước về trẻ em hiện nay được quy định như sau:

(1) Trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về trẻ em.

(2) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về trẻ em.

(3) Hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân về biện pháp, quy trình, tiêu chuẩn bảo đảm thực hiện quyền trẻ em theo quy định của pháp luật.

(4) Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trẻ em; truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng và vận động xã hội thực hiện quyền trẻ em.

(5) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người được giao làm công tác bảo vệ trẻ em, người chăm sóc trẻ em và mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em thực hiện quyền của trẻ em.

(6) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về trẻ em; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về trẻ em; giải quyết, đôn đốc việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của trẻ em, người giám hộ và tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em.

(7) Ngoài ra, nội dung quản lý của nhà nước còn phải thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về tình hình trẻ em và việc thực hiện pháp luật về trẻ em cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

(8) Đồng thời, thực hiện hợp tác quốc tế về thực hiện quyền trẻ em.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Vĩnh Kỳ Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Công nghệ thông tin Xem thêm

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg

Pháp luật
Quyết định số 940/QĐ-TTg xác định ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành?

Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định số 940/QĐ-TTg. của Thủ tướng Chính phủ xác định phát triển VNeID trở thành Nền tảng số quốc gia, an toàn, hiện đại, có khả năng mở rộng cao...

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Hợp đồng lao động theo Nghị định 235 có được hưởng phụ cấp thu hút vùng khó khăn? Thời gian không được tính hưởng chế độ phụ cấp thu hút là khi nào?

Đối tượng áp dụng chính sách chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại Điều 2 Nghị định 76/2019/NĐ-CP.