- Quỹ phúc lợi của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích nào?
- Người sử dụng lao động phải công khai với người lao động việc trích lập sử dụng quỹ phúc lợi đúng không?
- Người lao động có được quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng quỹ phúc lợi do người lao động đóng góp hay không?
Quỹ phúc lợi của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích nào?
Căn cứ theo khoản 4 Điều 32 Nghị định 91/2015/NĐ-CP có quy định về việc quản lý và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ như sau:
Theo đó, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sẽ được dùng vào các mục đích bao gồm:
(1) Đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của doanh nghiệp.
(2) Chi cho các hoạt động phúc lợi của người lao động trong doanh nghiệp bao gồm cả người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên do nhà nước bổ nhiệm.
(3) Góp một phần vốn để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi chung trong ngành hoặc với các đơn vị khác theo hợp đồng.
(4) Sử dụng một phần quỹ phúc lợi để trợ cấp khó khăn đột xuất cho những người lao động kể cả những trường hợp về hưu, về mất sức, lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa hoặc làm công tác từ thiện xã hội.
(5) Mức chi sử dụng quỹ do Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp quyết định, được ghi trong Quy chế quản lý, sử dụng quỹ của doanh nghiệp.

Quỹ phúc lợi của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích nào? (Hình từ Internet)
Người sử dụng lao động phải công khai với người lao động việc trích lập sử dụng quỹ phúc lợi đúng không?
Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 43 Nghị định 145/2020/NĐ-CP có quy định như sau:
Nội dung, hình thức người sử dụng lao động phải công khai
1. Người sử dụng lao động phải công khai với người lao động những nội dung sau:
a) Tình hình sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động;
b) Nội quy lao động, thang lương, bảng lương, định mức lao động, nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của người sử dụng lao động liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động;
c) Các thỏa ước lao động tập thể mà người sử dụng lao động tham gia;
d) Việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có);
đ) Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;
e) Tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động;
g) Nội dung khác theo quy định của pháp luật.
2. Những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này mà pháp luật quy định cụ thể hình thức công khai thì người sử dụng lao động thực hiện công khai theo quy định đó, trường hợp pháp luật không quy định cụ thể hình thức công khai thì người sử dụng lao động căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động và nội dung phải công khai để lựa chọn hình thức sau đây và thể hiện trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định tại Điều 48 Nghị định này:
a) Niêm yết công khai tại nơi làm việc;
b) Thông báo tại các cuộc họp, các cuộc đối thoại giữa người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nhóm đại diện đối thoại của người lao động;
c) Thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở để thông báo đến người lao động;
d) Thông báo trên hệ thống thông tin nội bộ;
đ) Hình thức khác mà pháp luật không cấm.
Như vậy, người sử dụng lao động cần phải công khai với người lao động việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có).
Do đó, người sử dụng lao động cần phải công khai với người lao động việc trích lập, sử dụng quỹ phúc lợi do người lao động đóng góp (nếu có).
Người lao động có được quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng quỹ phúc lợi do người lao động đóng góp hay không?
Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 46 Nghị định 145/2020/NĐ-CP có quy định như sau:
Nội dung, hình thức người lao động được kiểm tra, giám sát
1. Người lao động được kiểm tra, giám sát những nội dung sau:
a) Việc thực hiện hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể;
b) Việc thực hiện nội quy lao động, quy chế và các văn bản quy định khác của người sử dụng lao động liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động;
c) Việc sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, các quỹ do người lao động đóng góp;
d) Việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động;
đ) Việc thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
2. Hình thức kiểm tra, giám sát của người lao động thực hiện theo quy định của pháp luật.
Theo đó, người lao động được kiểm tra, giám sát việc sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, các quỹ do người lao động đóng góp theo quy định của pháp luật.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];