Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay được lấy từ những nguồn nào?

Nguyễn Lê Anh Thư 1,416 lượt xem
17:01 | 09/11/2025
Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay được lấy từ những nguồn nào? Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thực hiện những nhiệm vụ gì? Nguyên tắc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể là gì theo Nghị định 215?
Nội dung chính
  1. Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay được lấy từ những nguồn nào?
  2. Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thực hiện những nhiệm vụ gì?
  3. Nguyên tắc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể là gì theo Nghị định 215?

Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay được lấy từ những nguồn nào?

Theo quy định tại Điều 82 Luật Di sản văn hóa 2024, tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được lấy từ những nguồn sau:

(1) Ngân sách nhà nước bố trí từ chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương và địa phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

(2) Nguồn thu từ các hoạt động khai thác, sử dụng di sản văn hóa và các hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật.

(3) Viện trợ, tài trợ, hỗ trợ, tặng cho, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; quỹ bảo tồn di sản văn hóa.

(4) Nguồn tài chính hợp pháp khác.

Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa hiện nay được lấy từ những nguồn nào? (Hình từ Internet)

Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thực hiện những nhiệm vụ gì?

Căn cứ theo quy định tại Điều 83 Luật Di sản văn hóa 2024, ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa, thực hành, truyền dạy, kiểm kê, lập hồ sơ khoa học, xếp hạng, công nhận, ghi danh di sản văn hóa; công nhận bảo vật quốc gia;

- Thực hiện các biện pháp, chương trình, dự án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; khoanh vùng cắm mốc khu vực bảo vệ di tích; bảo quản, phục hồi, duy tu, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, phục chế, tu sửa cấp thiết di tích lịch sử - văn hóa, bảo tàng, trưng bày bảo tàng công lập, kho và hiện vật bảo tàng, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu;

- Lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh, đánh giá quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và quy hoạch khảo cổ; lập, thẩm định, thực hiện dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; thẩm định, thực hiện dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình, trưng bày bảo tàng công lập; dự án phục chế di sản tư liệu;

- Xây dựng và thực hiện Chương trình hành động quốc gia, báo cáo quốc gia, đề án, dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

- Giám định di vật, cổ vật, di sản tư liệu; sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu; mua và đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước đối với các trường hợp được xác định tại khoản 4 Điều 51 và khoản 4 Điều 62 Luật Di sản văn hóa 2024; đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu đi trưng bày ở trong nước và nước ngoài; tiếp nhận, đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu thu được do tìm kiếm, mua bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu trái phép từ nước ngoài về nước;

- Thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích thuộc sở hữu toàn dân, bảo tàng công lập;

- Thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu xử lý kết quả thăm dò, khai quật khảo cổ;

- Hỗ trợ nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể, người trực tiếp trông coi di tích lịch sử - văn hóa, cá nhân chủ sở hữu di sản tư liệu được UNESCO ghi danh theo quy định của pháp luật;

- Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nguồn nhân lực; nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

- Tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về di sản văn hóa;

- Dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; bảo dưỡng, duy trì, nâng cấp, mở rộng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

- Hoạt động của các Hội đồng thẩm định, khoa học, chuyên môn trong lĩnh vực di sản văn hóa và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia theo quy định của Luật này;

- Nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Nguyên tắc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể là gì theo Nghị định 215?

Tại Điều 9 Nghị định 215/2025/NĐ-CP có quy định về việc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể như sau:

Phục hồi di sản văn hóa phi vật thể
1. Nhiệm vụ phục hồi gồm: phục hồi các biểu đạt, truyền thống, thực hành, đồ vật, không gian thực hành và môi trường liên quan của di sản văn hóa phi vật thể.
2. Việc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể phải bảo đảm nguyên tắc theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và các quy định sau đây:
a) Có sự tham gia, đồng thuận rộng rãi của chủ thể di sản và cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh;
b) Tư liệu hóa quá trình phục hồi di sản;
c) Gửi báo cáo kết quả, sản phẩm tư liệu hóa cho cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh và đưa vào cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
3. Căn cứ vào kết quả thực hiện đề án, nhiệm vụ phục hồi di sản được phê duyệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nguồn lực bảo đảm di sản được duy trì thực hành và phát huy trong đời sống.

Theo đó, việc phục hồi di sản văn hóa phi vật thể phải bảo đảm nguyên tắc theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và các quy định sau đây:

- Có sự tham gia, đồng thuận rộng rãi của chủ thể di sản và cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh;

- Tư liệu hóa quá trình phục hồi di sản;

- Gửi báo cáo kết quả, sản phẩm tư liệu hóa cho cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh và đưa vào cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Lê Anh Thư Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Văn hóa - Xã hội Xem thêm

Pháp luật
Cơ sở lưu trú cần chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

(Chinhphu.vn) - Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.

Bài viết mới nhất