Người bị mắc bệnh ung thư có được miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật hiện hành?

Nguyễn Chí Cường 712 lượt xem
12:19 | 27/10/2025
Người bị mắc bệnh ung thư có được miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật hiện hành? Hồ sơ cần thiết để miễn chấp hành hình phạt tù đối với người mắc bệnh hiểm nghèo? Trình tự thủ tục thực hiện miễn chấp hành hình phạt tù thực hiện như thế nào?
Nội dung chính
  1. Người bị mắc bệnh ung thư có thuộc trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật?
  2. Hồ sơ cần thiết để miễn chấp hành hình phạt tù đối với người mắc bệnh hiểm nghèo?
  3. Trình tự thủ tục thực hiện miễn chấp hành hình phạt tù thực hiện như thế nào?

Người bị mắc bệnh ung thư có thuộc trường hợp miễn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật?

Theo quy định tại Điều 62 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đối Bộ luật Hình sự 2017 về miễn chấp hành hình phạt như sau:

- Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

- Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Sau khi bị kết án đã lập công;

+ Mắc bệnh hiểm nghèo;

+ Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

- Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

- Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

- Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.

- Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

Trong đó, bệnh hiểm nghèo theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 03/2024/NQ-HĐTP như sau:

Về một số từ ngữ
....
4. “Mắc bệnh hiểm nghèo” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 62, Điều 64, khoản 2 Điều 105 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người bị kết án đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị (ví dụ: ung thư giai đoạn cuối, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, lao nặng độ 4 kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên) hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao.
....

Từ những cơ sở nêu trên, thì những đối tượng mắc bệnh hiểm nghèo trong các trường hợp sau đây thuộc đối tượng có thể được Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt tù theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát:

- Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt mà mắc bệnh hiểm nghèo.

- Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm chưa chấp hành hình phạt mà mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Như vậy, người bị ung thư là người mắc bệnh hiểm nghèo nhưng phải thuộc trường hợp là bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao và thuộc 1 trong 2 trường hợp nêu trên thì mới thuộc đối tượng được miễn chấp hành hình phạt tù theo quyết định của Tòa án.

Người bị mắc bệnh ung thư thuộc trường hợp miễn hình phạt theo quy định của pháp luật hiện hành?

Hồ sơ cần thiết để miễn chấp hành hình phạt tù đối với người mắc bệnh hiểm nghèo?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án hình sự 2019 quy định về hồ sơ cần thiết như sau:

Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:

- Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

- Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền;

- Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án theo Mẫu số 01- THAHS kèm theo Thông tư 01/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP; Tải xuống

- Kết luận của bệnh viện, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên với trường hợp người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo.

Trình tự thủ tục thực hiện miễn chấp hành hình phạt tù thực hiện như thế nào?

Theo quy định tại khoản Điều 39 Luật Thi hành án hình sự 2019 quy đình trình tự như sau:

- Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù.

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát đề nghị, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn chấp hành án là người nước ngoài.

Ngay sau khi nhận được quyết định miễn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải làm thủ tục trả tự do cho người được miễn chấp hành án và báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp trên.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Chí Cường Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Trách nhiệm hình sự Xem thêm

Pháp luật
Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là cấm người chưa thành niên phạm tội tiếp xúc với những ai?

Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là một trong những biện pháp xử lý chuyển hướng tại công đồng được áp dụng với người chưa thành niên phạm tội. Sau đây là quy định chi tiết

Bài viết mới nhất