Quy định 213-QĐ/TW 2020 còn hiệu lực không? Có Quy định thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chưa?

16:21 | 12/10/2026
Quy định 221-QĐ/TW 2026 thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chi tiết dưới đây.
Nội dung chính
  1. Quy định 213-QĐ/TW 2020 còn hiệu lực không? Có Quy định thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chưa?
  2. Nhiệm vụ của tổ chức đảng nơi công tác theo Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 ra sao?
  3. Trách nhiệm của đảng viên đang công tác, tổ chức đảng nơi công tác và cư trú như thế nào?

Quy định 213-QĐ/TW 2020 còn hiệu lực không? Có Quy định thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chưa?

Ngày 05/10/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quy định 221-QĐ/TW về trách nhiệm của đảng viên đang công tác đối với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú.

Căn cứ khoản 4 Điều 9 Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 quy định tổ chức thực hiện như sau:

Tổ chức thực hiện
...
4. Quy định này thay thế Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú; có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và được phổ biến đến chi bộ để thực hiện.

Như vậy, từ ngày 05/10/2026, Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 thay thế Quy định 213-QĐ/TW năm 2020, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú.

Quy định 213-QĐ/TW 2020 còn hiệu lực không? Có Quy định thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chưa?

Quy định 213-QĐ/TW 2020 còn hiệu lực không? Có Quy định thay thế Quy định 213-QĐ/TW 2020 chưa? (Hình ảnh Internet)

Nhiệm vụ của tổ chức đảng nơi công tác theo Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 ra sao?

Căn cứ Điều 5 Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 quy định nhiệm vụ của tổ chức đảng nơi công tác như sau:

- Chỉ đạo chi uỷ, chi bộ (nơi không có chi uỷ) lập danh sách đảng viên giới thiệu về sinh hoạt tại nơi cư trú; kịp thời cập nhật, bổ sung, điều chỉnh thông tin khi đảng viên có sự thay đổi về nơi cư trú.

- Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi công tác căn cứ đề nghị của chi uỷ, chi bộ (nơi không có chi uỷ) cập nhật, quản lý thông tin những đảng viên của đơn vị mình thường xuyên đi công tác xa nơi cư trú, lưu động hoặc công tác đặc biệt để phối hợp tạo điều kiện cho đảng viên thực hiện nhiệm vụ nơi cư trú.

- Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi công tác cập nhật, thông báo cho cấp uỷ nơi cư trú biết khi đảng viên chuyển công tác hoặc bị khai trừ, xoá tên khỏi danh sách đảng viên hoặc đã xin ra khỏi Đảng.

- Chủ trì, phối hợp với cấp uỷ nơi đảng viên cư trú kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ nơi cư trú; biểu dương những đảng viên thực hiện tốt và nhắc nhở, phê bình hoặc xem xét xử lý theo quy định đối với những đảng viên chưa thực hiện nghiêm túc Quy định 221-QĐ/TW năm 2026.

- Lấy ý kiến nhận xét của chi uỷ, chi bộ (nơi không có chi uỷ) nơi đảng viên cư trú để thực hiện công tác cán bộ (khi cần thiết).

+ Khi cần lấy ý kiến nhận xét đối với đảng viên đang sinh hoạt tại nơi cư trú để phục vụ công tác cán bộ, cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi công tác đề nghị cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi cư trú cho ý kiến nhận xét.

+ Trong trường hợp cần thiết, cử đại diện cấp uỷ gặp gỡ, trao đổi với cấp uỷ nơi đảng viên cư trú để nắm tình hình và lấy ý kiến nhận xét trước khi thực hiện công tác cán bộ hoặc khi đảng viên cho rằng việc nhận xét của nơi cư trú chưa khách quan.

- Thông báo cho đảng viên biết về ý kiến nhận xét, đánh giá của chi uỷ, chi bộ (nơi không có chi uỷ) và cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi cư trú tại cuộc họp kiểm điểm, đánh giá cuối năm hoặc khi cần thiết.

Trách nhiệm của đảng viên đang công tác, tổ chức đảng nơi công tác và cư trú như thế nào?

Căn cứ Điều 3 Quy định 221-QĐ/TW năm 2026 quy định trách nhiệm của đảng viên đang công tác, tổ chức đảng nơi công tác và cư trú như sau:

(1) Đảng viên đang công tác có quyền và trách nhiệm:

- Thực hiện quy định của Điều lệ Đảng về sinh hoạt đảng tại nơi làm việc và có trách nhiệm thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú.

- Gần gũi, gắn bó với Nhân dân; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và kịp thời phản ánh với tổ chức đảng nơi mình công tác và cư trú; khắc phục những biểu hiện sống xa dân, thiếu trách nhiệm trong các công việc của Nhân dân nơi cư trú; củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

- Nêu cao vai trò, trách nhiệm của người đảng viên trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

- Không lợi dụng vị trí công tác để can thiệp vào công việc của địa phương nơi cư trú.

- Đảng viên có trách nhiệm cập nhật, bổ sung thông tin khi có sự thay đổi về nơi cư trú trong vòng 30 ngày kể từ khi thay đổi; chịu trách nhiệm về các thông tin cá nhân được cập nhật, bổ sung và báo cáo chi bộ nơi công tác.

- Khi nhận được nhận xét, đánh giá của cấp uỷ nơi cư trú, nếu đảng viên nhận thấy ý kiến nhận xét, đánh giá chưa khách quan thì có quyền phản ánh, giải trình, đề nghị chi uỷ, chi bộ (nơi không có chi uỷ) và cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ cư trú xem xét.

(2) Tổ chức đảng nơi công tác và cư trú có trách nhiệm:

- Tạo điều kiện cho đảng viên đang công tác thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ nơi cư trú.

- Kiểm tra, giám sát, nhận xét, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của đảng viên tại nơi cư trú.

- Phối hợp, trao đổi thông tin về đảng viên; kịp thời thông báo những vấn đề phát sinh liên quan đến đảng viên để xem xét, giải quyết xử lý theo thẩm quyền.

- Tổ chức đảng nơi đảng viên đang công tác và cư trú có trách nhiệm tiếp nhận kiến nghị, đề xuất của Nhân dân và đảng viên nơi cư trú để giải quyết hoặc chuyển đến cấp có thẩm quyền giải quyết.

Nguyễn Đỗ Bảo Trung
Nguyễn Đỗ Bảo Trung Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật hành chính Xem thêm

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Nga miễn visa 30 ngày cho công dân Việt Nam

Ngày 12.10.2026, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ban hành chính sách miễn thị thực cho công dân Việt Nam trong thời hạn một năm, từ ngày 15.10.2026 đến hết ngày 15.10.2027. Với bước đột phá này, Việt Nam trở thành quốc gia thứ 12 có công dân được miễn thị thực nhập cảnh vào Liên bang Nga.