Đề xuất sửa đổi hoàn thiện 07 nội dung về đấu thầu tại dự thảo Luật Đấu thầu 2026 sửa đổi ra sao?
Ngày 1/8/2026, Bộ Tài chính bắt đầu lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo Luật Đấu thầu sửa đổi Luật Đấu thầu 2023 (sau đây gọi là dự thảo Luật)
TẢI VỀ Dự thảo Luật Đấu thầu sửa đổi
Theo đó, đề xuất sửa đổi hoàn thiện 07 nội dung về đấu thầu tại dự thảo Luật Đấu thầu 2026 sửa đổi, cụ thể như sau:
(1) Về phạm vi điều chính, nguyên tắc áp dụng Luật Đấu thầu và các Luật có liên quan (Điều 1, Điều 2, Điều 3)
- Đối với những nội dung đã được quy định đầy đủ theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực thì pháp luật về đấu thầu chỉ quy định nguyên tắc hoặc dẫn chiếu thực hiện theo pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật (như việc lập dự toán gói thầu, xem xét điều kiện năng lực chuyên môn, yêu cầu kỹ thuật, quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán, bảo hành, giám sát gói thầu xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng; lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án có quy trình đặc thủ thực hiện theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực; hoạt động thanh tra về đấu thầu được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra...).
Sửa đổi phạm vì điều chỉnh của Luật Đấu thầu theo hướng áp dụng Luật này đối với dự án đầu tư có sử dụng đất theo pháp luật về đất đai và dự án đầu tư mà pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực quy định phải tổ chức đấu thầu theo pháp luật về đấu thầu. Trường hợp pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực có quy định riêng về lựa chọn nhà đầu tư thì thực hiện theo pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực.
(2) Về các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư (từ Điều 17 đến Điều 26)
- Đơn giản hóa các hình thức lựa chọn nhà thầu trên cơ sở lược bỏ một số hình thức có quy trình thực hiện tương đồng để tích hợp các hình thức này theo hướng:
+ Bỏ hình thức đấu thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh do có tương đồng về quy trình thực hiện (lựa chọn nhà thầu thông qua cạnh tranh) để tích hợp vào hình thức đấu thầu rộng rãi;
+ Bỏ hình thức mua sắm trực tiếp và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt do có tương đồng về quy trình thực hiện (lựa chọn trực tiếp một nhà thầu không thông qua cạnh tranh) để tích hợp vào hình thức chi định thầu.
- Bổ sung một số hình thức lựa chọn nhà thầu mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cụ thể:
+ Hình thức đàm phán cạnh tranh áp dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư chưa thể xác định đầy đủ yêu cầu kỹ thuật, giải pháp công nghệ hoặc giá gói thầu, trên cơ sở thương thảo với từ hai nhà thầu trở lên để hoàn thiện giải pháp kỹ thuật và phương án tài chính trước khi ký kết hợp đồng.
+ Hình thức chào giá trực tuyến trên cơ sở kế thừa quy định đã được áp dụng ổn định tại Nghị định 214/2025/NĐ-CP, tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất cho việc áp dụng lâu dài.
Tiếp tục duy trì các hình thức đàm phán giá, đặt hàng, tự thực hiện và tham gia thực hiện của cộng đồng do các hình thức này đã được áp dụng ổn định, phù hợp với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực và được quy định trong pháp luật chuyên ngành, như đàm phán giá trong lĩnh vực y tế; đặt hàng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đường sắt, giáo dục..., qua đó bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu quản lý của từng ngành, lĩnh vực.
Đối với lựa chọn nhà đầu tư, dự thảo Luật tiếp tục quy định 04 hình thức gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định nhà đầu tư và lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt.
Đây là các hình thức đã được áp dụng ổn định, phù hợp với đặc thù của hoạt động lựa chọn nhà đầu tư và chưa phát sinh vướng mắc, bất cập cần sửa đổi.
- Về các hình thức lựa chọn nhà đầu tư (Điều 29) Dụ thảo Luật tiếp tục duy trì 04 hình thức lựa chọn nhà đầu tư gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định nhà đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt do các hình thức này đang đang được áp dụng ổn định và chưa phát sinh các vướng mắc, khó khăn trên thực tiễn.
(3) Về quy trình, thủ tục lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
- Luật chỉ quy định về nguyên tắc chung quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và giao Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện đối với từng hình thức (Điều 34, Điều 39).
- Sửa đổi quy định về đấu thầu quốc tế (Điều 9) nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam theo hướng:
+ Chỉ áp dụng đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà đầu tư các dự án đầu tư kinh doanh có tính chất đặc biệt về công nghệ, năng lượng sạch hoặc yêu cầu cung cấp dịch vụ theo chuẩn quốc tế mà nhà đầu tư trong nước không đáp ứng được; đối với các dự án đầu tư kinh doanh khác thì thực hiện đấu thầu trong nước.
+ Mở rộng phạm vì áp dụng quy định “nhà thầu trong nước được sử dụng nhà thầu phụ hoặc nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu nước ngoài đối với gói thầu tổ chức đấu thầu trong nước” cho tất cả lĩnh vực thay vì chỉ áp dụng cho lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Sửa đổi quy định về đấu thầu qua mạng (Điều 15) theo hướng chỉ quy định về yêu cầu đối với Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và cơ sở dữ liệu về đấu thầu, giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính ổn định của Luật, đồng thời tạo thuận lợi cho việc nâng cấp, hoàn thiện Hệ thống trong quá trình tổ chức thực hiện. Dự thảo Nghị định dự kiến quy định về đấu thầu qua mạng theo hướng:
+ Thực hiện đấu thầu trên môi trường điện từ là phương thức chủ yếu, được lồng ghép trong toàn bộ quy trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, đấu thầu quốc tế, chỉ định nhà thầu, nhà đầu tư, đặt hàng và quản lý thực hiện hợp đồng.
+ Số hóa toàn bộ vòng đời gói thầu, dự án và hợp đồng; xây dựng cơ sở dữ liệu về giá, năng lực, kinh nghiệm, uy tín của nhà thầu, nhà đầu tư, chất lượng và kết quả thực hiện hợp đồng để hỗ trợ lập giá gói thầu, đánh giá nhà thầu, nhà đầu tư, giám sát, cảnh báo rủi ro và lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong các lần tiếp theo.
+ Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thẩu, phân tích dữ liệu, giám sát và phát hiện dấu hiệu gian lận, thông đồng, bất thường trong hoạt động đấu thầu.
Sửa đổi quy định về nội dung hồ sơ mời thầu (Điều 35) theo hướng cho phép hồ sơ mời thầu được nêu nhãn hiệu của hàng hóa theo nhóm nhãn hiệu nhằm bảo đảm lựa chọn được hàng hóa đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tính năng kỹ thuật, công nghệ, tính đồng bộ và hiệu quả sử dụng theo nhu cầu thực tế của chủ đầu tư, đồng thời vẫn bảo đảm cạnh tranh giữa các nhãn hiệu cùng nhóm.
(4) Về chính sách ưu tiên, ưu đãi trong đấu thầu, mua sắm hàng hoá xuất xứ trong nước (Điều 8)
- Luật chỉ quy định nguyên tắc về đối tượng, các nội dung ưu đãi tại Luật và giao Chính phủ quy định chi tiết về cách thức áp dụng nội dung ưu đãi cho từng đối tượng ưu đãi theo hướng tạo cơ chế ưu tiên cho sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược xuất xứ Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa... trên cơ sở phù hợp với chủ trương, nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyền đổi số.
Đồng thời, quy định trường hợp có sự khác biệt về áp dụng ưu đãi theo quy định tại Luật này với quy định tại luật, nghị quyết khác của Quốc hội, pháp luật ngành, lĩnh vực thì áp dụng chính sách ưu đãi thuận lợi hơn nhằm bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và phát huy hiệu quả của các chính sách ưu đãi.
Dự thảo Nghị định dự kiến quy định chi tiết cụ thể về cách thức áp dụng nội dung ưu đãi cho từng đối tượng ưu đãi, trong đó quy định cơ chế uu tiên mua sắm sản phẩm xuất xứ trong nước đối với sản phẩm thuộc Danh mục công nghệ cao, công nghệ chiến lược; bắt buộc sử dụng hàng hóa trong nước sản xuất trong các dự án đầu tư kinh doanh thay vì chỉ áp dụng ưu đãi cộng điểm hoặc cộng tiền như quy định hiện hành.
Cách tiếp cận này vừa bảo đảm tính ổn định của Luật, vừa tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ chủ động điều chỉnh chính sách ưu đãi phủ hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn, góp phần phát triển thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thực hiện các mục tiêu phát triền bền vũng.
(5) Về hợp đồng (Điều 46 đến Điều 55)
Luật chỉ quy định khung nguyên tắc về loại hợp đồng, sửa đổi hợp đồng, các nội dung khác về quy trình, thủ tục thực hiện hợp đồng (như: hồ sơ hợp đồng, điều kiện ký kết hợp đồng, thanh toán hợp đồng) và giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật.
- Không quy định cứng về tỷ lệ hoặc giá trị tối đa công việc giao cho nhà thầu phụ để xác định hành vi chuyển nhượng thầu mà xác định trên cơ sở bản chất của hành vi và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng (Điều 65).
Theo đó, dự thảo Luật xác định việc nhà thầu chính giao công việc cho nhà thầu phụ ngoài phạm vi trong hợp đồng và được chủ đầu tư chấp thuận không phải là hành vi chuyển nhượng thầu; hành vi chuyển nhượng thầu được xác định khi chủ đầu tư chấp thuận cho nhà thầu chính chuyển giao toàn bộ hoặc phần công việc chủ yếu làm thay đổi bàn chất vai trò của nhà thầu trúng thầu, không còn trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng.
- Làm rõ cơ chế điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng, hoàn cảnh thay đổi cơ bản để tạo cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chinh hợp đồng, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về xây dựng, pháp luật về dân sự, thương mại... (Điều 16).
- Quy định trường hợp không phải ký kết hợp đồng đối với dự án đầu tư kinh doanh quy mô nhỏ, không có giai đoạn vận hành, không phát sinh nhiều nghĩa vụ giữa các bên (khoản 4 Điều 50).
(6) Về kiểm tra, giám sát hoạt động đấu thầu, hành vi bị cẩm, xử lý vi phạm và giải quyết kiến nghị (Điều 68 đến Điều 70)
- Hoàn thiện cơ chế giám sát theo hướng thống nhất đầu mối thực hiện chức năng giám sát nhà nước về đấu thầu; tăng cường giám sát việc dựa trên dữ liệu, thống kê, phân tích trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia nhằm kịp thời phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm; nội dung giám sát bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giám sát theo kết quả đầu ra.
- Hoàn thiện quy định về các hành vị thông thầu, chuyển nhượng thầu, gian lận và không bảo đảm cạnh tranh, công bằng, bảo đảm đồng bộ với pháp luật chuyên ngành và phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, chỉ quy định chế tài cấm tham gia hoạt động đấu thầu đối với tổ chức, cá nhân vi phạm; trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính, hình sự thì việc xử lý vi phạm thực hiện theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực mà không quy định tại Luật Đấu thầu để bào đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật.
- Hoàn thiện cơ chế giải quyết kiến nghị theo hướng chi giải quyết kiến nghị về kết quả lựa chọn nhà thầu; đối với hồ sơ mời thầu, quá trình lựa chọn nhà thầu thực hiện theo cơ chế làm rõ, tăng cường cảnh báo, giám sát và xử lý vi phạm thông qua Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; đồng thời bổ sung nguyên tắc việc giải quyết kiến nghị phải bảo đảm tính độc lập, không ảnh hưởng đến quá trình ký kết, quản lý thực hiện hợp đồng của nhà thầu, nhà đầu tư.
(7) Các nội dung khác
- Sửa đổi quy định về giải thích từ ngũ (Điều 5) theo hướng sửa đổi, lược bỏ một số khái niệm không cần thiết, ít được áp dụng và chuyền xuống Nghị định quy định trên cơ sở lồng ghép vào quy trình thực hiện, như khái niệm cơ quan có thẩm quyền, đấu thầu qua mạng, đấu thầu quốc tế, đầu thầu trong nước, người có thẩm quyền, giá dự thầu, giá hợp đồng..., bổ sung khái niệm văn bản điện tử. Sửa đổi quy định về quản lý nhà nước theo hướng (Điều 63) chi quy định nguyên tắc chung, đồng thời giao Chính phủ quy định chỉ tiết trách nhiệm của Bộ, ngành thuộc thẩm quyển của Chính phủ.
- Sửa đổi quy định về đấu thầu trước (Điều 33) theo hướng quy định nguyên tắc và giao Chính phủ quy định chỉ tiết.
Dự thảo Nghị định dự kiến tiếp tục quy định các nội dung đã được áp dụng ổn định tại Luật Đấu thầu.
Ngoài ra, dự thảo Luật quy định nguyên tắc (Điều 7, Điều 11, Điều 14, Điều 43, Điều 48) và giao Chính phủ quy định chi tiết các nội dung mang tính kỹ thuật (như thông tin, chi phí, lưu trữ hồ sơ, ngôn ngữ, đồng tiền và thời gian trong đấu thầu, bảo đảm dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng, điều kiện năng lực đối với tổ chuyên gia, tổ thầm định, danh mục mua sắm tập trung...); chỉnh lý kỹ thuật đối với nội dung: trách nhiệm của các bên trong hoạt động đấu thầu, hủy thầu bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo Luật (Điều 12, Điều 56 đến Điều 62).
Dự thảo Nghị định dự kiến tiếp tục hoàn thiện các quy định này trên.cơ sở nội dung đã được quy định và áp dụng ổn định tại Luật Đấu thầu.
>> Toàn bộ điểm mới dự thảo Luật Đấu thầu 2026 (sửa đổi)
>> Bảng so sánh dự thảo Luật Đấu thầu 2026 sửa đổi và Luật Đấu thầu 2023

Đề xuất sửa đổi hoàn thiện 07 nội dung về đấu thầu tại dự thảo Luật Đấu thầu 2026 sửa đổi ra sao? (Hình từ Internet)
5 Nguyên tắc chào giá trực tuyến 2026?
Căn cứ theo Điều 100 Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định 5 nguyên tắc chào giá trực tuyến 2026 gồm:
(1) Nhà thầu có thể liên tục thay đổi mức giá, các yếu tố khác ngoài giá (nếu có) trong thời gian chào giá trực tuyến. Mức giá, các yếu tố khác ngoài giá (nếu có) do các nhà thầu chào được công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia được công khai trong quá trình chào giá, trừ tên nhà thầu. Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tự động công khai mức giá, các yếu tố khác ngoài giá (nếu có) trong thời gian chào giá trực tuyến; thời gian còn lại của quá trình chào giá trực tuyến.
(2) Chào giá trực tuyến chỉ áp dụng đối với gói thầu đánh giá theo phương pháp giá thấp nhất.
(3) Trường hợp có nhiều nhà thầu cùng chào giá thấp nhất bằng nhau sau thời điểm kết thúc chào giá trực tuyến thì nhà thầu chào giá đầu tiên thấp nhất được xếp hạng cao nhất.
(4) Thời điểm kết thúc chào giá trực tuyến phải trong giờ hành chính.
(5) Đối với chào giá trực tuyến theo quy trình rút gọn, giá chào không được cao hơn giá gói thầu.
Đối với chào giá trực tuyến theo quy trình thông thường, giá chào không được cao hơn giá thấp nhất trong biên bản mở thầu của các nhà thầu tham dự thầu.
Trường hợp giá dự thầu sau giảm giá (nếu có) của tất cả nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật vượt giá gói thầu và không có nhà thầu nào tham gia chào giá trực tuyến đối với chào giá trực tuyến theo quy trình thông thường thì chủ đầu tư xử lý tình huống theo quy định tại điểm b hoặc điểm c hoặc điểm d khoản 8 Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP.
Nguyên tắc ưu đãi trong đấu thầu 2026 được quy định ra sao?
Nguyên tắc ưu đãi trong đấu tahàu 2026 được quy định tại Điều 5 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Nguyên tắc ưu đãi
1. Nhà thầu tham dự thầu thuộc đối tượng được hưởng nhiều hơn một loại ưu đãi trong đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc trong đánh giá về tài chính thì khi tính ưu đãi chỉ được hưởng một loại ưu đãi có lợi nhất cho nhà thầu tương ứng với từng nội dung đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc đánh giá về tài chính.
2. Trường hợp tất cả các nhà thầu tham dự thầu đều được hưởng ưu đãi như nhau hoặc tất cả các nhà thầu đều không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì không cần tính ưu đãi để so sánh, xếp hạng.
3. Đối với gói thầu hỗn hợp, việc tính ưu đãi căn cứ tất cả các đề xuất của nhà thầu trong các phần công việc tư vấn, cung cấp hàng hóa, xây lắp. Nhà thầu được hưởng ưu đãi khi có đề xuất chi phí trong nước (chi phí tư vấn; phi tư vấn; hàng hóa có xuất xứ Việt Nam; xây lắp) từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.
4. Nhà thầu phải chứng minh nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ do nhà thầu chào thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Đấu thầu.
Theo đó, nguyên tắc ưu đãi trong đấu thầu 2025 được quy định như sau:
- Nhà thầu tham dự thầu thuộc đối tượng được hưởng nhiều hơn một loại ưu đãi trong đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc trong đánh giá về tài chính thì khi tính ưu đãi chỉ được hưởng một loại ưu đãi có lợi nhất cho nhà thầu tương ứng với từng nội dung đánh giá về năng lực và kinh nghiệm hoặc đánh giá về tài chính.
- Trường hợp tất cả các nhà thầu tham dự thầu đều được hưởng ưu đãi như nhau hoặc tất cả các nhà thầu đều không thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thì không cần tính ưu đãi để so sánh, xếp hạng.
- Đối với gói thầu hỗn hợp, việc tính ưu đãi căn cứ tất cả các đề xuất của nhà thầu trong các phần công việc tư vấn, cung cấp hàng hóa, xây lắp. Nhà thầu được hưởng ưu đãi khi có đề xuất chi phí trong nước (chi phí tư vấn; phi tư vấn; hàng hóa có xuất xứ Việt Nam; xây lắp) từ 25% trở lên giá trị công việc của gói thầu.
- Nhà thầu phải chứng minh nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ do nhà thầu chào thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Đấu thầu 2023.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];