Chính thức hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử có thể bị xử phạt tới 10 triệu đồng theo Nghị định 371 ra sao?
Dưới đây là nội dung "Chính thức hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử có thể bị xử phạt tới 10 triệu đồng theo Nghị định 371 ra sao" như sau:
Ngày 31/12/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định 371/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 77/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 2012 về một số biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá và Nghị định 117/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
>>> TẢI VỀ Nghị định 371/2025/NĐ-CP
Theo đó, tại nội dung khoản 2 Điều 2 Nghị định 371/2025/NĐ-CP bổ sung Điều 26a sau Điều 26 Nghị định 117/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử như sau:
Vi phạm quy định sử dụng, chứa chấp thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo đó, kể từ ngày 31/12/2025, đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Mức phạt tiền trên là mức phạt tiền đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Lưu ý: Nghị định 371/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2025.
Trên đây là nội dung "Chính thức hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử có thể bị xử phạt tới 10 triệu đồng theo Nghị định 371 ra sao?"

Chính thức hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử có thể bị xử phạt tới 10 triệu đồng theo Nghị định 371 ra sao? (Hình từ Internet)
Không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá xử phạt ra sao?
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 26 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, quy định như sau:
Vi phạm quy định về bán, cung cấp thuốc lá
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không có biển thông báo không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi tại điểm bán của đại lý bán buôn, đại lý bán lẻ thuốc lá.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Trưng bày quá một bao hoặc một tút hoặc một hộp của một nhãn hiệu thuốc lá tại đại lý bán lẻ, điểm bán lẻ thuốc lá;
b) Bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi;
c) Bán, cung cấp thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá theo quy định của pháp luật. Trường hợp bán thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá là thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả thì thực hiện xử phạt theo quy định của pháp luật về hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
Đình chỉ hoạt động kinh doanh có liên quan đến hành vi vi phạm trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với các hành vi quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc thu hồi và loại bỏ yếu tố vi phạm đối với thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều này. Trường hợp không loại bỏ được yếu tố vi phạm thì buộc tiêu hủy.
Theo đó, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá theo quy định của pháp luật có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Ngoài ra, áp dụng biện pháp đình chỉ hoạt động kinh doanh có liên quan đến hành vi không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá theo quy định của pháp luật trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng.
Bên cạnh đó, buộc thu hồi và loại bỏ yếu tố vi phạm đối với thuốc lá không ghi nhãn, không in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 2 Điều 26 Nghị định 117/2020/NĐ-CP. Trường hợp không loại bỏ được yếu tố vi phạm thì buộc tiêu hủy.
Điều kiện thành lập cơ sở tư vấn cai nghiện thuốc lá mới nhất ra sao?
Căn cứ Điều 5 Nghị định 77/2013/NĐ-CP quy định về điều kiện thành lập cơ sở tư vấn cai nghiện thuốc lá như sau:
(1) Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở của Nhà nước hoặc có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở tư nhân.
(2) Có đủ cơ sở vật chất để bảo đảm hoạt động tư vấn cai nghiện thuốc lá:
- Có tài liệu truyền thông quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Nghị định 77/2013/NĐ-CP;
- Quản lý thông tin, dữ liệu về tư vấn cai nghiện thuốc lá trên máy tính;
- Có phòng dành riêng cho hoạt động tư vấn cai nghiện thuốc lá trực tiếp diện tích tối thiểu là 10m2; có điện thoại, internet và các phương tiện thông tin khác bảo đảm hoạt động tư vấn cai nghiện thuốc lá gián tiếp.
(3) Có người trực tiếp thực hiện hoạt động tư vấn cai nghiện thuốc lá quy định tại khoản 4 Điều 4 của Nghị định 77/2013/NĐ-CP.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];