Người lao động khám sức khỏe ở công ty cũ rồi sang công ty mới có phải khám lại không?
Căn cứ theo Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động như sau:
Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động
1. Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
2. Khi khám sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
...
Theo đó, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động là trách nhiệm của công ty. Công ty phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 01 lần/năm và bảo đảm thực hiện đúng quy định đối với các nhóm lao động thuộc trường hợp phải khám ít nhất 06 tháng/lần.
Vậy, "người lao động khám sức khỏe ở công ty cũ rồi sang công ty mới có phải khám lại không?"
Đối với vấn đề này, Sở Nội vụ TP Hà Nội đã có Công văn 6347/SNV-VLATLĐ năm 2026 Tải về về việc đôn đốc thực hiện khám sức khỏe định kỳ và cập nhật dữ liệu khám sức khỏe đối với người lao động.
Theo đó, nghĩa vụ này gắn với người sử dụng lao động và người lao động thuộc phạm vi quản lý của người sử dụng lao động, không phải chỉ cần người lao động đã có một lần khám trong năm là mọi nơi làm việc khác đều mặc nhiên được miễn.
Tuy nhiên, nếu người lao động đã khám trong cùng năm và kết quả khám đáp ứng yêu cầu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tổ chức khám trùng lặp chỉ để có thêm một lần khám trong năm. Thực tế, hướng dẫn năm 2026 tại Hà Nội còn yêu cầu đơn vị rà soát số người lao động “đã khám, chưa khám” và trường hợp đã khám trong năm thì không khám trùng, chỉ tổng hợp số liệu.
Do đó, người lao động khám sức khỏe ở công ty cũ rồi sang công ty mới có phải khám lại sẽ có một số trường hợp như sau:
Trường hợp 1: Người lao động làm đồng thời cho 2 công ty
Ví dụ: Người lao động vừa làm Công ty X vừa làm Công ty Y. Công ty X đã tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trong năm 2026. Nếu kết quả khám trước đó tại Công ty X phù hợp đáp ứng yêu cầu, thời điểm khám, nội dung khám và yêu cầu quản lý sức khỏe của Công ty Y thì Công ty Y không bắt buộc phải khám lại cho người lao động mà chỉ tổng hợp số liệu gửi cơ quan có thẩm quyền.
Trường hợp 2: Người lao động nghỉ Công ty X rồi chuyển sang Công ty Y trong cùng năm
Ví dụ tháng 5 đã khám sức khỏe ở Công ty X, tháng 10 nghỉ việc và sang Công ty Y. Nếu kết quả khám trong năm đã đáp ứng yêu cầu thì có cơ sở để xem xét không khám trùng, hướng dẫn thực tế tại Công văn 6347/SNV-VLATLĐ năm 2026 cũng đang theo hướng rà soát người đã khám trong năm để tránh khám trùng.
Trường hợp 3: Công việc tại nơi thứ hai có yêu cầu khám khác
Nếu người lao động chuyển sang công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại hoặc thuộc nhóm phải khám với tần suất/nội dung đặc thù, thì việc đã khám ở nơi thứ nhất không đương nhiên thay thế toàn bộ yêu cầu khám tại nơi thứ hai. Luật quy định riêng về tần suất khám đối với một số nhóm lao động và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp đối với người làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp.

Người lao động khám sức khỏe ở công ty cũ rồi sang công ty mới có phải khám lại không? (Hình từ Internet)
Doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bị phạt bao nhiêu tiền?
Theo đó, căn cứ khoản 2 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định người sử dụng lao động có hành vi không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 75 triệu đồng.
Tuy nhiên, mức phạt nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt đối với tổ chức bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân; đồng thời điểm b khoản 2 Điều 7 xác định doanh nghiệp là tổ chức bị áp dụng mức phạt gấp 2 lần.
Do đó, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động bị phạt từ 2 triệu đồng đến 6 triệu đồng đối với mỗi người lao động bị vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa không quá 150 triệu đồng.
Ngoài việc bị phạt tiền, theo điểm a khoản 11 Điều 33 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là:
- Buộc tổ chức khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định;
- Trường hợp người lao động đã tự đi khám, doanh nghiệp phải thanh toán chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Như vậy, từ ngày 10/09/2026, doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động không chỉ có thể bị phạt tối đa 150 triệu đồng mà còn phải tổ chức khám hoặc hoàn trả chi phí khám cho người lao động.
Điều kiện để chi phí khám sức khỏe định kỳ cho người lao động được trừ khi tính thuế TNDN?
Theo khoản 6 Điều 21 Luật Vệ sinh an toàn lao động 2015 quy định như sau:
Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động
...
6. Chi phí cho hoạt động khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch vụ.
...
Đồng thời, căn cứ Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như sau:
Các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ quy định tại Điều 10 của Nghị định này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện tại các điểm a, b và c sau đây:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
...
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
...
c) Khoản chi có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
...
Căn cứ các quy định nêu trên, khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho người lao động do doanh nghiệp chi trả được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Bên cạnh đó, khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho người lao động được xác định là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
(1) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
(2) Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định
(3) Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản thanh toán có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên
Như vậy, trường hợp doanh nghiệp đáp ứng các quy định nêu trên thì khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho người lao động được trừ khi tính thuế TNDN.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];