- Hiểu đúng quy định có hóa đơn đầu vào chưa chắc được khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng?
- Quy định mới về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đối với khoản trả chậm, trả góp trên 5 triệu áp dụng từ 20/6/2026 như thế nào?
- Công văn 3705/CT-CS nếu sai quy định lao động mất quyền khấu trừ thuế GTGT và chi phí TNDN?
Hiểu đúng quy định có hóa đơn đầu vào chưa chắc được khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng?
Hiện hành, tại khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào được quy định như sau:
- Có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng thay cho phía nước ngoài;
- Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ;
- Đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, ngoài các điều kiện trên còn phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có).
Hiện nay, có khá nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng việc mua hàng hóa phục vụ hoạt động kinh doanh có hóa đơn đầy đủ thì toàn bộ thuế GTGT đầu vào sẽ được khấu trừ.
Tuy nhiên, từ những quy định được làm rõ tại Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 181/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng được sửa đổi bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP thực tế không phải trường hợp nào cứ có hóa đơn đầu vào là sẽ được khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng.
Dưới đây là lưu ý trường hợp mặc dù có hóa đơn đầu vào chưa chắc được khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng, cụ thể:
Tại khoản 2 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1, khoản 2 Điều 3 Nghị định 144/2026/NĐ-CP quy định việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng như sau:
Khấu trừ thuế giá trị gia tăng
...
2. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa (bao gồm cả tài sản cố định), dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ % giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra trong kỳ tính thuế. Trong đó:
a) Tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra bao gồm doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng; doanh thu của hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng; giá trị gia tăng của hoạt động mua, bán, chế tác vàng, bạc, đá quý (trừ trường hợp giá trị gia tăng âm (-)) và doanh thu của hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định này (nếu có).
Riêng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu của hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán được xác định theo quy định của pháp luật về chứng khoán; doanh thu của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
...
Theo đó, có thể hiểu, nếu một khoản chi phí được sử dụng đồng thời cho hoạt động chịu thuế GTGT và hoạt động không chịu thuế GTGT, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ phần thuế GTGT đầu vào phục vụ cho hoạt động chịu thuế.
Nói dễ hiểu, không phải cứ có hóa đơn là được khấu trừ thuế toàn bộ, doanh nghiệp phát sinh một khoản chi dùng chung cho nhiều hoạt động khác nhau. Trong đó có hoạt động được áp dụng thuế GTGT và có hoạt động không thuộc diện chịu thuế. Khi đó doanh nghiệp cần xác định rõ phần nào được khấu trừ và phần nào không được khấu trừ theo quy định.
Nếu không hạch toán riêng được thì doanh nghiệp sẽ phải phân bổ theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu phát sinh trong kỳ.
Tuy nhiên, đối với số thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ, doanh nghiệp được tính vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào nguyên giá của tài sản cố định theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Hiểu đúng quy định có hóa đơn đầu vào chưa chắc được khấu trừ toàn bộ thuế giá trị gia tăng? (Hình từ Internet)
Quy định mới về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đối với khoản trả chậm, trả góp trên 5 triệu áp dụng từ 20/6/2026 như thế nào?
Ngày 5/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 181/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025. Nghị định 144/2026/NĐ-CP có hiệu lực áp dụng từ ngày 20/06/2026.
Tải về Nghị định 144/2026/NĐ-CP.
Theo đó, tại Điều 4 Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định 181/2025/NĐ-CP quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt trong một số trường hợp đặc biệt trong đó, nêu rõ Quy định mới về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đối với khoản trả chậm, trả góp trên 5 triệu áp dụng từ 20/6/2026, cụ thể như sau:
Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
Trường hợp sau khi điều chỉnh, cơ sở kinh doanh có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ số thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Công văn 3705/CT-CS nếu sai quy định lao động mất quyền khấu trừ thuế GTGT và chi phí TNDN?
Ngày 05/6/2026, Cục Thuế đã có Công văn 3705/CT-CS năm 2026 về chính sách thuế.
Theo đó, Cục Thuế hướng dẫn chính sách thuế trong lao động như sau:
(1) Quy định về chính sách về lao động:
Điều 52 và Điều 53 Bộ luật Lao động 2019 về cho thuê lại lao động và nguyên tắc hoạt động cho thuê lại lao động;
Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động về quy định về doanh nghiệp cho thuê lại lao động, về bên thuê lại lao động, về thu hồi giấy phép;
Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định danh mục 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, trong đó có công việc “Sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông";
Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (đã hết hiệu lực từ 15/11/2025)
Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 36/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế có ý kiến như sau:
Về vướng mắc của Thuế tỉnh Phú Thọ liên quan đến hoạt động cho thuê lại lao động, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội (Bộ Nội vụ) đã có Công văn 515/CTL&BHXH-CSLĐ ngày 31/3/2026, Bộ Khoa học công nghệ đã có Công văn 1990/BKHCN-KHTC năm 2026 phúc đáp Công văn 1543/CT-CS năm 2026 của Cục Thuế.
(2) Quy định về chính sách thuế và hóa đơn:
Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 về các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế;
Điều 9, Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định về các khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế;
Điều 13, Điều 14 và Điều 16 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về các hành vi bị nghiêm cấm trong khấu trừ, hoàn thuế, về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, về hóa đơn, chứng từ;
Điểm b khoản 1 Điều 14 và khoản 15 Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP;
Khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 70/2025/NĐ-CP) về nguyên tắc lập hóa đơn;
Căn cứ quy định nêu trên, Cục Thuế có ý kiến như sau:
- Về lập hóa đơn, đề nghị Thuế tỉnh Phú Thọ căn cứ pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng và hồ sơ thực tế liên quan để hướng dẫn xử lý theo quy định.
- Về thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp: Đề nghị Thuế tỉnh Phú Thọ căn cứ ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội (Bộ Nội vụ) và căn cứ quy định của pháp luật từng thời kỳ, hợp đồng, hồ sơ thực tế để xem xét có đủ điều kiện khấu trừ, hoàn thuế thuế giá trị gia tăng đầu vào theo quy định và xác định chi phí được trừ và không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.
Trường hợp doanh nghiệp có các khoản chi phí là khoản chi này vi phạm pháp luật chuyên ngành thì không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 23 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP của Chính phủ, việc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 23 Nghị định 181/2025/NĐ-CP và Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.
Theo Công văn 1543/CT-CS năm 2026 về chính sách thuế và hóa đơn đối với cho thuê lại lao động hướng dẫn như sau: Theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động, trong đó có công việc “sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông”. Những công việc không thuộc Phụ lục II nêu trên thì không được cho thuê lại lao động và bên thuê lại lao động không được sử dụng lao động vào các công việc ngoài danh mục nêu trên. Phụ lục I và phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định 36/2025/QĐ-TTg ngày 29/9/2025 nêu trên thì hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” và hoạt động “sản xuất thiết bị truyền thông” có cùng mã ngành cấp 2 (mã 26). Tuy nhiên, 02 hoạt động này lại khác ngành cấp 3 (hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” có mã ngành cấp 3 là 261 và hoạt động “sản xuất thiết bị truyền thông” có mã ngành cấp 3 là 263). Để có cơ sở xác định doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động và thuê lại lao động theo đúng quy định tại Luật lao động và làm cơ sở cho việc xác định thuế GTGT, hóa đơn, thuế TNDN đối với hoạt động cho thuê lại lao động, Cục Thuế đề nghị Quý Bộ, Quý Cục có ý kiến về hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” nêu trên có được xác định thuộc danh mục 20 công việc được thực hiện cho thuê lại lao động quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP hay không? Theo Công văn 1990/BKHCN-KHTC năm 2026 có nội dung hướng dẫn như sau: Danh mục 20 công việc cụ thể được thực hiện cho thuê lại lao động theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trong đó, không có mục “sản xuất linh kiện điện tử”. Vì vậy, không có đủ căn cứ để xác định hoạt động “sản xuất linh kiện điện tử” thuộc danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Theo Công văn 515/CTL&BHXH-CSLĐ năm 2026 có nội dung hướng dẫn như sau: Tại Quyết định 36/2025/QĐ-TTg ngày 29/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam thì hoạt động sản xuất linh kiện điện tử có mã ngành 261, hoạt động sản xuất thiết bị truyền hình có mã ngành 263. Tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động 2019 về điều kiện lao động và quan hệ lao động thì doanh nghiệp chỉ được thực hiện cho thuê lại lao động đối với 20 công việc, trong đó có công việc “sản xuất, lắp đặt thiết bị truyền hình, viễn thông”. |
Như vậy, theo hướng dẫn của Công văn 3705/CT-CS năm 2026, cho thuê lại lao động nhưng không thuộc danh mục 20 công việc cho thuê lại lao động thì giao dịch đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật lao động. Khi đó, cơ quan thuế có cơ sở xem xét:
- Không chấp nhận chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với khoản chi này;
- Không chấp nhận khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu không đáp ứng điều kiện theo quy định thuế GTGT.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];