- Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2025/TT-BYT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế ra sao?
- Khi nào khoản chi cho y tế được áp dụng giảm trừ khi tính thuế TNCN?
- Khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho lao động có được trừ khi tính thuế TNDN không?
Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2025/TT-BYT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế ra sao?
Bộ Y tế lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2025/TT-BYT ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.
>> TẢI VỀ Dự thảo Thông tư <<
Căn cứ khoản 4, khoản 5 Điều 1 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2025/TT-BYT ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, cụ thể:
(1) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 8 như sau:
- Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 8 như sau: Thực hiện phân bổ ổn định số lượng thẻ bảo hiểm y tế cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trên địa bàn quản lý. Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu số lượng thẻ bảo hiểm y tế tối đa được phân bổ không cao hơn số lượng thẻ bảo hiểm y tế đã được cấp có thẩm quyền phân bổ cho cơ sở đó trước ngày 01 tháng 07 năm 2026.
- Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 3 Điều 8 như sau: Cung cấp thông tin về các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và hướng dẫn người tham gia bảo hiểm y tế lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu phù hợp với nơi cư trú, học tập, căn cứ theo khả năng chi trả của người bệnh và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
(2) Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:
- Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 2 Điều 9 như sau:
+ Chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với người mắc bệnh mạn tính hoặc điều trị dài ngày theo danh mục bệnh quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này thì phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giá trị trong 01 năm kể từ ngày ghi trên phiếu chuyển và thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 5 Thông tư này;
+ Trường hợp người bệnh có Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với bệnh thuộc danh mục quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này mà cơ sở tiếp nhận người bệnh chẩn đoán xác định một bệnh khác có trong danh mục quy định tại Phụ lục III thì người bệnh được khám bệnh, chữa bệnh trong thời hạn một năm kể từ ngày ghi trên Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không phải làm thủ tục bổ sung Phiếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giá trị sử dụng một năm.
- Bổ sung điểm h vào sau điểm g khoản 2 Điều 9 như sau: Việc chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải phù hợp yêu cầu chuyên môn, khả năng điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và không phụ thuộc vào hạng bệnh viện hiện hành và phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trước đây.

Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2025/TT-BYT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế ra sao?
Khi nào khoản chi cho y tế được áp dụng giảm trừ khi tính thuế TNCN?
Căn cứ tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác
...
2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo.
...
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 69 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định như sau:
Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026. Việc xác định thời gian áp dụng trong một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026;
b) Quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa quy định tại điểm g khoản 2 Điều 8 của Nghị định này áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
...
Theo đó, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với các khoản chi cho y tế của bản thân hoặc người phụ thuộc. Mức giảm trừ đối với chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục được bảo hiểm y tế chi trả tối đa 23 triệu đồng/năm.
Quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được áp dụng từ ngày 01/01/2026.
Khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho lao động có được trừ khi tính thuế TNDN không?
Căn cứ tại Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về khám sức khỏe định kỳ cho người lao động như sau:
Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động
1. Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
2. Khi khám sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
3. Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.
4. Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn kỹ thuật.
5. Người sử dụng lao động đưa người lao động được chẩn đoán mắc bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
6. Chi phí cho hoạt động khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều này được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch vụ.
Theo đó, khoản chi khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định của pháp luật thuế TNDN.
Như vậy, doanh nghiệp được tính khoản chi khám sức khỏe định kỳ cho người lao động vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch vụ, khoản chi này được hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];