Bắt buộc cung cấp mã số thuế, số định danh cá nhân đối với hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử từ ngày 01/7/2025?

Vũ Phạm Nhật Nam 214 lượt xem
15:00 | 12/06/2025
Hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử phải cung cấp mã số thuế hoặc số định danh cá nhân cho sàn từ ngày 01/7/2025 theo Nghị định 117?
Nội dung chính
  1. Bắt buộc cung cấp mã số thuế, số định danh cá nhân đối với hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử từ ngày 01/7/2025?
  2. Trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay ra sao?
  3. Số định danh cá nhân sẽ thay cho mã số thuế từ ngày 01/7/2025?

Bắt buộc cung cấp mã số thuế, số định danh cá nhân đối với hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử từ ngày 01/7/2025?

Ngày 09/6/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 117/2025/NĐ-CP quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.

Theo đó, căn cứ Điều 11 Nghị định 117/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) quy định như sau:

Trách nhiệm của hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử
1. Hộ, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm kê khai và nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên và các khoản thu khác phải nộp ngân sách nhà nước do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.
2. Hộ, cá nhân có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin mã số thuế hoặc số định danh cá nhân (đối với công dân Việt Nam); số hộ chiếu hoặc thông tin định danh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp (đối với công dân nước ngoài) và các thông tin bắt buộc đối với người bán theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử cho tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử.
3. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế phải nộp cho các tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay và chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của Nghị định này.
4. Hộ, cá nhân đã được tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử khấu trừ, kê khai, nộp thay số thuế giá trị gia tăng, số thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Nghị định này thì không phải khai, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với các hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử đã khấu trừ, nộp thuế thay.

Như vậy, theo quy định trên, có thể hiểu rằng, từ ngày 01/7/2025, hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin mã số thuế hoặc số định danh cá nhân (đối với công dân Việt Nam); Số hộ chiếu hoặc thông tin định danh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp (đối với công dân nước ngoài) và các thông tin bắt buộc đối với người bán theo quy định của pháp luật về thương mại điện tử cho nền tảng thương mại điện tử.

Hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử phải cung cấp mã số thuế hoặc số định danh cá nhân từ ngày 01/7/2025?

Hộ cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử phải cung cấp mã số thuế hoặc số định danh cá nhân từ ngày 01/7/2025?

Trách nhiệm của các sàn thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay ra sao?

Căn cứ Điều 7 Nghị định 117/2025/NĐ-CP quy định trách nhiệm của tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay như sau:

- Đăng ký sử dụng, xủ lý chứng từ khấu trừ thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ.

- Cấp chứng từ khấu trừ thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo Mẫu số 01/CTKT-TMĐT ban hành kèm theo Nghị định 117/2025/NĐ-CP theo năm bằng phương thức điện tử cho hộ, cá nhân.

- Thực hiện quản lý tên và mật khẩu của các tài khoản đã được cơ quan thuế cấp; lưu giữ dữ liệu giao dịch kinh doanh, thông tin và tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp, số thuế đã khấu trừ của hộ, cá nhân theo quy định pháp luật về quản lý thuế.

- Thực hiện khấu trừ thuế, kê khai số thuế đã khấu trừ, nộp số thuế đã khấu trừ chính xác, đầy đủ theo thông tin cung cấp của hộ cá nhân kinh doanh và theo quy định tại Nghị định 117/2025/NĐ-CP; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.

Tổ chức quản lý nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thuế thay đã thực hiện kê khai thông tin số thuế đã khấu trù, nộp thuế thay của hộ, cá nhân cho cơ quan thuế theo quy định của Nghị định này thì không phải thực hiện cung cấp thông tin của hộ, cá nhân theo quy định tại Nghị định 91/2022/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế 2019.

- Cung cấp thông tin khác về hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo yêu cầu của cơ quan thuế theo quy định pháp luật về quản lý thuế.

- Thực hiện trả đầy đủ, kịp thời số tiền thuế đã khấu trừ, nộp thay của hộ, cá nhân đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng.

Lưu ý: Nghị định 117/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. (Căn cứ Điều 13 Nghị định 117/2025/NĐ-CP)

Số định danh cá nhân sẽ thay cho mã số thuế từ ngày 01/7/2025?

Căn cứ khoản 2 Điều 38 Thông tư 86/2024/TT-BTC quy định như sau:

Hiệu lực thi hành
…
2. Mã số thuế do cơ quan thuế cấp cho cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh được thực hiện đến hết ngày 30/6/2025. Kể từ ngày 01/7/2025, người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc sử dụng mã số thuế theo quy định tại Điều 35 Luật Quản lý thuế thực hiện sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế.

Dẫn chiếu đến Điều 35 Luật Quản lý thuế 2019, trong đó quy định khi mã số định danh cá nhân được cấp cho toàn bộ dân cư thì sử dụng mã số định danh cá nhân thay cho mã số thuế.

Căn cứ khoản 2 Điều 38 Thông tư 86/2024/TT-BTC quy định mã số thuế do cơ quan thuế cấp cho cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh được thực hiện đến hết ngày 30/6/2025.

Do đó, kể từ ngày 01/7/2025, người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc sử dụng mã số thuế theo quy định tại Điều 35 Luật Quản lý thuế 2019 thực hiện sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế.

Logo Thư viện Pháp luật
Vũ Phạm Nhật Nam Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Quản lý thuế Xem thêm

Bài viết mới nhất