Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 81/2019, Thông tư 06/2024 về quản lý tuân thủ và rủi ro trong nghiệp vụ hải quan ra sao?
Cục Hải quan đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 81/2019/TT-BTC và Thông tư 06/2024/TT-BTC quy định về quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan và quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan.
Tải về << Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 81/2019/TT-BTC và Thông tư 06/2024/TT-BTC >>
Theo đó, tại dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 81/2019/TT-BTC và Thông tư 06/2024/TT-BTC đề xuất sửa đổi, bổ sung về nguyên tắc trong quản lý tuân thủ và quản lý rủi ro được quy định tại Điều 4, 5 của dự thảo Thông tư như sau:
(1) Nguyên tắc và phương thức thực hiện quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan
- Quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
+ Được thực hiện thống nhất, thường xuyên, xuyên suốt trong quản lý hải quan trên cơ sở nghĩa vụ tuân thủ áp dụng đối với doanh nghiệp và thông tin, dữ liệu có liên quan;
+ Bảo đảm khách quan, công bằng, có căn cứ, phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động và nghĩa vụ tuân thủ áp dụng đối với doanh nghiệp; kết quả quản lý tuân thủ phải có khả năng kiểm tra, đối chiếu và truy nguyên;
+ Gắn quản lý tuân thủ với quản lý rủi ro; kết quả quản lý tuân thủ được sử dụng phục vụ quản lý rủi ro và kết quả quản lý rủi ro được sử dụng phục vụ quản lý tuân thủ phù hợp với mục đích, phạm vi và quy định của pháp luật;
+ Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động tuân thủ pháp luật, phòng ngừa, phát hiện và khắc phục sai sót, cải thiện tuân thủ; tạo thuận lợi phù hợp đối với doanh nghiệp tuân thủ tốt;+ Việc áp dụng chính sách ưu tiên, tạo thuận lợi, hỗ trợ tuân thủ và các biện pháp quản lý phải phù hợp với kết quả tuân thủ, yêu cầu quản lý hải quan và quy định của pháp luật.
- Quản lý tuân thủ trong quản lý hải quan được thực hiện theo các phương thức sau đây:
+ Thực hiện trên hệ thống thông tin nghiệp vụ thông qua việc xử lý thông tin, dữ liệu và thực hiện tự động hoặc hỗ trợ thực hiện các hoạt động quản lý tuân thủ;
+ Thực hiện thông qua hoạt động nghiệp vụ của công chức hải quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và yêu cầu quản lý tuân thủ;
+ Kết hợp các phương thức quy định tại điểm a và điểm b khoản này phù hợp với nội dung, tính chất và yêu cầu quản lý.
(2) Nguyên tắc và phương thức thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
- Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
+ Được thực hiện thống nhất, thường xuyên, xuyên suốt và tích hợp trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan; kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với sự phát sinh, thay đổi của rủi ro và yêu cầu quản lý hải quan;
+ Dựa trên thông tin, dữ liệu và các căn cứ có liên quan; bảo đảm khách quan, có căn cứ, phù hợp và có khả năng kiểm tra, đối chiếu, truy nguyên;
+ Rủi ro được quản lý trên cơ sở xem xét tổng thể chuỗi cung ứng và mối quan hệ, sự liên kết, tác động qua lại giữa các chủ thể, hàng hóa, phương tiện vận tải, giao dịch, hoạt động, tuyến đường, yếu tố, sự kiện rủi ro và các thông tin có liên quan;
+ Kết hợp, liên kết thông tin, dữ liệu và kết quả của quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ và các hoạt động nghiệp vụ hải quan để nhận diện, phân tích và quản lý rủi ro tổng thể; việc sử dụng kết quả phải phù hợp với mục đích, phạm vi và quy định của pháp luật;
+ Tập trung nguồn lực quản lý đối với rủi ro cần kiểm soát; áp dụng biện pháp quản lý phù hợp với mức độ, tính chất của rủi ro và yêu cầu quản lý; tạo thuận lợi đối với đối tượng có mức độ rủi ro thấp theo quy định của pháp luật;
+ Thông tin, dữ liệu, tiêu chí, hồ sơ, kết quả và các nội dung liên quan đến quản lý rủi ro được quản lý, sử dụng, chia sẻ theo thẩm quyền; bảo đảm bảo mật, an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
- Phương thức thực hiện quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 dự thảo Thông tư này.

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 81/2019, Thông tư 06/2024 về quản lý tuân thủ và rủi ro trong nghiệp vụ hải quan ra sao?
Người nộp thuế có tiền thuế nợ sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đúng không?
Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 68 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định việc cưỡng chế bằng biện pháp cưỡng chế bằng biện pháp dùng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như sau:
Cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
1. Biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan được áp dụng đối với người nộp thuế có tiền thuế nợ, cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 66 hoặc Điều 67 Nghị định này mà không thu được hoặc không thu đủ tiền thuế nợ thì cơ quan hải quan áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
2. Trường hợp cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định ấn định thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành quyết định ấn định thuế thì cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định.
3. Không áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với các trường hợp sau đây:
a) Hàng hóa xuất khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế hoặc có mức thuế suất thuế xuất khẩu 0%;
b) Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.
...
Như vậy, người nộp thuế có tiền thuế nợ có thể bị cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu cơ quan quản lý thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế theo Điều 66 hoặc Điều 67 Nghị định 252/2026/NĐ-CP nhưng không thu được hoặc không thu đủ tiền thuế nợ.
Ngoài ra, còn cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan khi cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nhưng quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn chấp hành quyết định ấn định thuế mà người nộp thuế hoặc người bảo lãnh không tự nguyện chấp hành quyết định ấn định thuế.
Tuy nhiên, không áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với các trường hợp sau đây:
- Hàng hóa xuất khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế hoặc có mức thuế suất thuế xuất khẩu 0%
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ trực tiếp an ninh, quốc phòng, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu trợ khẩn cấp, hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.
Ấn định thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu như thế nào?
Căn cứ vào Điều 25 Luật Quản lý thuế 2025 quy định việc ấn định thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu như sau:
(1) Các trường hợp ấn định thuế của cơ quan hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:
- Người nộp thuế dựa vào các chứng từ, tài liệu, dữ liệu không hợp pháp để khai thuế, tính thuế; không khai thuế hoặc kê khai không chính xác, không đầy đủ, không trung thực nội dung liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế;
- Quá thời hạn theo quy định của pháp luật về hải quan, quy định khác của pháp luật có liên quan hoặc yêu cầu bằng văn bản của cơ quan hải quan mà người nộp thuế không cung cấp, từ chối hoặc trì hoãn, kéo dài việc cung cấp hồ sơ, sổ kế toán, tài liệu, chứng từ, dữ liệu, số liệu liên quan đến việc xác định chính xác số tiền thuế phải nộp, miễn, giảm, hoàn, không thu, không chịu thuế theo quy định;
- Người nộp thuế không chứng minh, giải trình hoặc quá thời hạn quy định mà không giải trình được các nội dung liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật;
- Người nộp thuế không ghi nhận hoặc ghi nhận không đầy đủ, không trung thực, không chính xác số liệu trên sổ kế toán, hồ sơ, chứng từ, dữ liệu, tài liệu kế toán để xác định nghĩa vụ thuế;
- Cơ quan hải quan có đủ bằng chứng, căn cứ xác định về việc khai báo trị giá, mã số, xuất xứ hàng hóa không đúng với thực tế, ảnh hưởng đến số thuế phải nộp, ưu đãi;
- Giao dịch được thực hiện không đúng với bản chất kinh tế, không đúng thực tế phát sinh, ảnh hưởng đến số tiền thuế phải nộp, miễn, giảm, hoàn, không thu, không chịu thuế;
- Người nộp thuế không tự tính được số tiền thuế phải nộp;
- Người nộp thuế không chấp hành quyết định kiểm tra của cơ quan hải quan;
- Trường hợp khác do cơ quan hải quan hoặc cơ quan khác phát hiện việc kê khai, tính thuế không đúng với quy định của pháp luật.
(2) Cơ quan hải quan ấn định số tiền thuế phải nộp dựa trên các căn cứ: hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu; căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế; cơ sở dữ liệu quản lý thuế và cơ sở dữ liệu thương mại; hồ sơ hải quan; tài liệu, sổ sách, chứng từ, dữ liệu kế toán, kết quả thanh tra, kiểm tra, kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];