Công chức thuế được trang bị, cấp phát và phải mang phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu khi nào?
Điều 3 Nghị định 256/2026/NĐ-CP quy định công chức thuế được trang bị, cấp phát và phải mang phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu khi thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao.
Cụ thể:
Trang bị, cấp phát, quản lý, sử dụng
- Công chức thuế được trang bị, cấp phát và phải mang phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu khi thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao.
- Cơ quan thuế, công chức thuế có trách nhiệm quản lý, sử dụng phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu đúng mục đích, giữ gìn, bảo quản và sử dụng bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả.
- Cơ quan thuế, công chức thuế không được thay đổi mẫu phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu quy định tại Nghị định này; nghiêm cấm việc làm giả, cho thuê, cho mượn, mua, bán, sử dụng phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu trái quy định.
- Việc trang bị, cấp phát, quản lý, sử dụng phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế phải đúng tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của Bộ Tài chính.
(khoản 1 Điều 3 Nghị định 256/2026/NĐ-CP)

Công chức thuế được trang bị, cấp phát và phải mang phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu khi nào? (Hình từ Internet)
Cơ quan thuế được kiểm tra thuế trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế trong trường hợp nào?
Điều 22 Luật Quản lý thuế 2025 quy định cơ quan thuế được kiểm tra thuế trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế trong 09 trường hợp sau:
(1) Trường hợp hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế;
(2) Trường hợp hồ sơ thuộc diện kiểm tra sau hoàn thuế đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong quản lý thuế và trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ban hành quyết định hoàn thuế;
(3) Trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế;
(4) Trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề;
(5) Trường hợp theo yêu cầu, đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền;
(6) Người nộp thuế có rủi ro cao thuộc trường hợp: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động, cổ phần hóa, chấm dứt hiệu lực mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh;
(7) Trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 22 Luật Quản lý thuế 2025
Cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu; ban hành quyết định ấn định thuế, xử lý vi phạm hành chính về quản lý thuế hoặc chuyển sang kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế;
(8) Trường hợp kiểm tra theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế;
(9) Trường hợp hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế của người nộp thuế có rủi ro cao.
(khoản 3 Điều 22 Luật Quản lý thuế 2025)
Lưu ý: Đối với các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề và các trường hợp chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, phá sản, giải thể, chấm dứt hoạt động, cổ phần hóa, chấm dứt hiệu lực mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh cơ quan thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế không quá 01 lần trong 01 năm. Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp kiểm tra lại quy định tại điểm a khoản 6 Điều 22 Luật Quản lý thuế 2025
Thời hạn kiểm tra thuế không quá 20 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra, trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 20 ngày. Thời hạn kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết không quá 40 ngày, trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn 01 lần nhưng không quá 40 ngày. Trường hợp cần thu thập, trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài thì thời hạn kiểm tra thuế có thể kéo dài nhưng không quá 02 năm.
Thời hạn kiểm tra quy định tại điểm này không bao gồm thời gian tạm dừng kiểm tra theo thông báo của cơ quan quản lý thuế.
Cơ quan thuế có quyền truy cập dữ liệu kế toán của người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế đúng không?
Điều 23 Luật Quản lý thuế 2025 quy định từ ngày 01/7/2026, trong trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin. Truy cập trực tiếp vào dữ liệu phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, máy tính tiền của người nộp thuế để thu thập thông tin phục vụ kiểm tra, thanh tra thuế nhằm tăng cường khả năng phát hiện hành vi trốn thuế, đặc biệt trong bối cảnh số hóa dữ liệu kế toán và hóa đơn điện tử.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];