Đảng ta xác định, muốn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phải làm gì?
Tham khảo theo Tài liệu tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân của Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Cao Bằng tải về như sau:
III. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN, CHĂM LO ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CHO NHÂN DÂN
1. Quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân
Kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đúc kết thực tiễn từ sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn xác định “đoàn kết” là giá trị cốt lõi, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, là cội nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích vì Nhân dân phục vụ, phấn đấu cho Nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Đây là mẫu số chung, là điểm gốc để quy tụ tất cả mọi người dân Việt Nam vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, muốn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc cần phải “dân chủ rộng rãi”, “pháp luật công bằng”, kết hợp đạo đức nhân văn, “tự do, bình đẳng”, Nhân dân phải được sống với chân giá trị, được an toàn, an ninh, từ đó có niềm tin và cống hiến.
[...]
Theo đó, Đảng ta xác định, muốn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phải “dân chủ rộng rãi”, “pháp luật công bằng”, kết hợp đạo đức nhân văn, “tự do, bình đẳng”.

Đảng ta xác định, muốn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cần phải làm gì? (Hình từ Internet)
Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc nào?
Căn cứ Điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nội dung cơ bản của nguyên tắc đó là:
- Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).
- Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp uỷ cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình.
- Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương.
- Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số.
- Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.
Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam do cơ quan nào triệu tập?
Căn cứ Điều 15 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 có quy định như sau:
Điều 15.
1. Đại hội đại biểu toàn quốc do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ năm năm một lần; có thể triệu tập sớm hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm.
2. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của nhiệm kỳ vừa qua; quyết định đường lối, chính sách của Đảng nhiệm kỳ tới; bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng khi cần; bầu Ban Chấp hành Trung ương. Số lượng Uỷ viên Trung ương chính thức và Uỷ viên Trung ương dự khuyết do Đại hội quyết định.
Ban Chấp hành Trung ương xem xét việc chuyển Uỷ viên Trung ương dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Uỷ viên Trung ương chính thức khi khuyết.
3. Khi Ban Chấp hành Trung ương xét thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số cấp uỷ trực thuộc yêu cầu thì Ban Chấp hành Trung ương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường. Đại biểu dự Đại hội bất thường là các Uỷ viên Trung ương đương nhiệm, đại biểu đã dự Đại hội đại biểu toàn quốc đầu nhiệm kỳ, đủ tư cách.
Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ năm năm một lần.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];