Công văn 7221/CT-QLNT về kê khai ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được hướng dẫn thế nào?
Ngày 29/09/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 7221/CT-QLNT năm 2026 về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp.
Xem toàn bộ Công văn 7221 CT QLNT 2026 về kê khai ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp dưới đây:
Về việc ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Cục Thuế có ý kiến như sau:
(1) Về nội dung kiến nghị của Công ty liên quan đến rà soát Công văn số 4853/VPCP-KTTH ngày 10/7/2024 của Văn phòng Chính phủ:
- Tại Công văn số 4853/VPCP-KTTH ngày 10/7/2024 của Văn phòng Chính phủ có nêu: “Bộ Tài chính, Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, giải quyết kiến nghị về việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với dự án Nhà máy sản xuất bản thành phẩm giầy thể thao của Công ty tại văn bản nêu trên theo đúng thẩm quyền và quy định pháp luật”.
- Thực hiện Công văn số 4853/VPCP-KTTH, Bộ Tài chính đã có Công văn số 12020/BTC-TCT ngày 5/11/2024 trả lời Ủy Ban nhân dân thành phố Cần Thơ về chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với dự án Nhà máy sản xuất bán thành phẩm giầy thể thao của Công ty như sau: “Căn cứ các quy định nêu trên, Công ty thành lập năm 2016 thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thì Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Do vậy, trường hợp Công ty chưa được Bộ Công Thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thì Công ty không đủ điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Đề nghị UBND thành phố Cần Thơ chỉ đạo Cục Thuế thành phố Cần Thơ tổ chức thực hiện các nội dung kiến nghị được nêu tại kết luận thanh tra số 70/KL-TTr ngày 28/7/2023 của Thanh tra Bộ Tài chính nêu trên”.
Như vậy, Công văn số 12020/BTC-TCT đã trả lời cụ thể Công ty không đủ điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ.
- Tại Công văn số 0909/2026/TAEK ngày 9/9/2026, Công ty đề nghị có ý kiến xem xét không xử phạt vi phạm hành chính và không tính tiền chậm nộp đối với việc kê khai ưu đãi thuế theo văn bản hướng dẫn của cơ quan thuế.
Về vấn đề này, Cục Thuế đã có Công văn số 5537/CT-CS ngày 25/11/2025 trả lời Công ty như sau: “Trường hợp Công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, Công ty phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định. Việc xử lý vi phạm hành chính về thuế thực hiện theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thuế.
Về nộp dần tiền thuế nợ, đề nghị Công ty căn cứ quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế, liên hệ với cơ quan quản lý thuế trực tiếp để được hướng dẫn thực hiện theo quy định”.
Như vậy, tại Công văn số 5537/CT-CS đã trả lời cụ thể Công ty phải nộp đủ số tiền thuế còn thiếu do khai sai theo quy định và bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định tại Luật quản lý thuế.
(2) Đối với kiến nghị liên quan đến quyết định kiểm tra thuế của Thuế tỉnh Cần Thơ:
[...]
Trên đây là thông tin: Công văn 7221 CT QLNT về kê khai ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được hướng dẫn thế nào?

Công văn 7221/CT-QLNT về kê khai ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp được hướng dẫn thế nào? (Hình từ Internet)
Tổ chức chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì tiền chậm nộp được tính như thế nào?
Tại khoản 1 Điều 42 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 102/2021/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 42. Tiền chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn
1. Tính tiền chậm nộp tiền phạt
a) Tổ chức, cá nhân chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì bị tính tiền chậm nộp tiền phạt theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp.
b) Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày kế tiếp ngày hết thời hạn nộp tiền phạt đến ngày liền kề trước ngày tổ chức, cá nhân nộp tiền phạt vào ngân sách nhà nước.
2. Không tính tiền chậm nộp tiền phạt trong các trường hợp sau:
a) Trong thời gian được hoãn thi hành quyết định phạt tiền;
b) Trong thời gian xem xét, quyết định giảm, miễn tiền phạt;
c) Số tiền phạt chưa đến hạn nộp trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần.
3. Trường hợp tổ chức, cá nhân không tự giác nộp tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt vào ngân sách nhà nước thì cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm thông báo, đôn đốc tổ chức, cá nhân nộp tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt theo quy định.
Như vậy, tổ chức chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì tiền chậm nộp được tính như sau:
- Tổ chức chậm nộp tiền phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn thì bị tính tiền chậm nộp tiền phạt theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền phạt chậm nộp.
- Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày kế tiếp ngày hết thời hạn nộp tiền phạt đến ngày liền kề trước ngày tổ chức, cá nhân nộp tiền phạt vào ngân sách nhà nước.
Thu nhập chịu thuế và bù trừ thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế TNDN được quy định thế nào?
Tại Điều 6 Nghị định 320/2025/NĐ-CP quy định về thu nhập chịu thuế và bù trừ thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế TNDN như sau:
- Doanh nghiệp có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế thì thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh là tổng thu nhập của tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh bị lỗ thì được bù trừ số lỗ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập do doanh nghiệp tự lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 6 Nghị định 320/2025/NĐ-CP
Phần thu nhập chịu thuế còn lại sau khi bù trừ áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của hoạt động sản xuất, kinh doanh còn thu nhập.
- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư bị lỗ thì không bù trừ với thu nhập chịu thuế của hoạt động sản xuất, kinh doanh đang được hưởng ưu đãi thuế có thu nhập.
- Thu nhập chịu thuế từ hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế, không được bù trừ lỗ, lãi với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];