Bản án 22/2019/DS-ST ngày 19/06/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH N

BẢN ÁN 22/2019/DS-ST NGÀY 19/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 553/TLST-DS ngày 21/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐST-DS ngày 10/5/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2019/QĐST-DS ngày 30/5/2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng Y. Địa chỉ: số nhà X, quận P, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ M, Chủ tịch Hội đồng quản trị. Ông Võ M ủy quyền cho ông Nguyễn T, Tổng gíam đốc đại diện Ngân hàng Y thực hiện một số công việc tại cơ quan tư pháp theo giấy ủy quyền số 12xx/QĐ ngày 27/4/2016.

Chi nhánh Ngân hàng Y tại N : số nhà Z, phường T, thành phố P. Giám đốc chi nhánh: Ông Trương Th, đại diện theo ủy quyền tại Quyết định số 888/QĐ ngày 21/5/2016 của Tổng gíam đốc Ngân hàng Y. Ông Th ủy quyền cho ông Tống Tr theo giấy ủy quyền số 20 ngày 01/5/2019 (ông Tr có mặt).

- Bị đơn: Ông Đặng Ch, sinh năm: 1963. Trú: khu phố 8, phường Thanh Sơn, thành phố Phan Rang- Tháp Chàm (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn - Ngân hàng Y do ngƣời đại diện theo ủy quyền là ông Tống Tr- trình bày:

Ông Phạm Ch có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Y chi nhánh N chi tiết như sau: Tổng hạn mức cấp tín dụng: 40.000.000 đồng theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 19/12/2013, cụ thể: số tiền vay: 40.000.000 đồng, lãi suất trong hạn: 10,5%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn: 15.75%/năm; thời hạn vay: 36 tháng, từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2016; mục đích vay: tiêu dùng; biện pháp bảo đảm: tín chấp.

Trong quá trình từ ngày 19/12/2013 đến ngày 19/6/2019, ông Ch đã trả tổng số tiền như sau: vốn: 15.151.047 đồng; lãi trong hạn: 12.259.459 đồng, lãi quá hạn: 169.494 đồng (lãi suất quá hạn = 150% x lãi suất trong hạn tại thời điểm duyệt vay; tiền lãi phát sinh = số tiền nợ gốc quá hạn x lãi suất quá hạn x số ngày bị quá hạn), tổng cộng: 27.580.000 đồng.

Tính đến ngày 19/6/2019, ông Ch còn nợ các khoản sau:

- Vốn: 24.848.953 đồng.

- Lãi trong hạn: 340.541 đồng

- Lãi quá hạn: 12.871.758 đồng

- Tổng cộng: 38.061.252 đồng.

Ngân hàng Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Ch có nghĩa vụ trả ngay cho ngân hàng số tiền 38.061.252 đồng bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn; và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2019 cho đến ngày ông Ch thực trả hết nợ theo lãi suất quá hạn được quy định tại giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ.

Bị đơn vắng mặt tại phiên toà.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện cuả nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[1] Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mạt trong quá trình Tòa án giải quyết, thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng hoàn toàn hợp lệ.

[2] Ngân hàng Y chi nhánh N cho ông Phạm Ch vay 40 triệu đồng theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 19/12/2013, số tiền vay: 40.000.000 đồng, lãi suất trong hạn: 10,5%/năm; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn: 15.75%/năm; thời hạn vay: 36 tháng, từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 12 năm 2016.Trong quá trình từ ngày 19/12/2013 đến ngày19/6/2019, ông Ch đã trả 27.580.000 đồng, vào các ngày 18 và 19 mỗi tháng, ngày trả cuối cùng là 22/3/2016. Tại giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ, ở Phần cam kết của khách hàng vay có ghi: “tôi cam kết thanh toán vốn và lãi đúng hạn theo quy định của Ngân hàng, trường hợp nộp trễ hạn tôi đồng ý chịu lãi phạt theo quy định của Ngân hàng. Nếu đến hạn thanh toán mà tôi không trả được nợ thì được chuyển toàn bộ số tiền sang nợ quá hạn trong ngày đó và chịu mức lãi suất phạt quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất cho vay trong hạn”. Nay Ngân hàng Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Ch có nghĩa vụ trả ngay cho ngân hàng số tiền 38.061.252 đồng, cụ thể: vốn: 24.848.953 đồng, lãi tính đến ngày 19/6/2019 bao gồm lãi trong hạn: 340.541 đồng, lãi quá hạn: 12.871.758 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2019 cho đến ngày ông Ch thực trả hết nợ theo lãi suất quá hạn được quy định tại giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện cuả nguyên đơn là phù hợp pháp luật, nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ch có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: 38.061.252 đồng x 5%= 1.903.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điều 147, điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 463, điều 466, điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/ UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Ch có nghĩa vụ trả ngay cho Ngân hàng Y số tiền 38.061.252 đồng (ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi mốt ngàn hai trăm năm mươi hai đồng); bao gồm: vốn: 24.848.953 đồng, lãi trong hạn: 340.541 đồng, lãi quá hạn: 12.871.758 đồng tính đến ngày 19/6/2019 và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2019 cho đến ngày ông Ch thực trả hết nợ theo lãi suất quá hạn được quy định tại giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ch có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: 1.903.000 đồng. Trả lại cho Ngân hàng Y số tiền tạm ứng án phí 837.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0017774 ngày 12/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt người đại diện của nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.”


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/DS-ST ngày 19/06/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:22/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về