Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không? Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu xử lý như thế nào?

Nguyễn Bình An 6,183 lượt xem
11:26 | 12/06/2024
Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không? Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu thì xử lý như thế nào? Tài sản do người khác bỏ quên được giao nộp cho công an trong bao lâu không xác định được chủ sở hữu tài sản hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì được xử lý tài sản?
Nội dung chính
  1. Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không?
  2. Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu thì xử lý như thế nào?
  3. Tài sản người khác bỏ quên được giao nộp cho công an trong bao lâu không xác định được chủ sở hữu tài sản hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì được xử lý tài sản?

Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không?

Căn cứ để xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn được tìm thấy theo quy định tại Điều 229 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy
1. Người phát hiện tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy mà không có hoặc không xác định được ai là chủ sở hữu thì sau khi trừ chi phí tìm kiếm, bảo quản, quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Tài sản được tìm thấy là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì thuộc về Nhà nước; người tìm thấy tài sản đó được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật;
b) Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.

Theo quy định nêu trên, nếu xác định được chủ sở hữu phải tiến hành trả lại ngay cho chủ sở hữu.

Tuy nhiên, khi không xác định được chủ sở hữu đối với tài sản là vàng do bản thân đào được thì người đó phải có nghĩa vụ thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi trừ các chi phí tìm kiếm bảo quản nếu có đối với vàng đào được thì xác định giá trị của vàng nếu giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy.

Nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.

Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không? Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu xử lý như thế nào?

Đào được vàng trong sân nhà mình thì có quyền sở hữu tài sản đó không? Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu xử lý như thế nào? (Hình từ Internet)

Người phát hiện tài sản nhưng không xác định được chủ sở hữu thì xử lý như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản không xác định được chủ sở hữu như sau:

- Người phát hiện tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

- Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.

- Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản sẽ thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.

- Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là động sản thì quyền sở hữu đối với động sản đó thuộc về người phát hiện tài sản.

- Sau 05 năm, kể từ ngày thông báo công khai mà không xác định được ai là chủ sở hữu tài sản là bất động sản thì bất động sản đó thuộc về Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

Tài sản người khác bỏ quên được giao nộp cho công an trong bao lâu không xác định được chủ sở hữu tài sản hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì được xử lý tài sản?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên
…
2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

Như vậy, sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì được xử lý quyền sở hữu tài sản đó theo quy định pháp luật.

Logo Thư viện Pháp luật
Nguyễn Bình An Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Pháp luật về Quyền dân sự Xem thêm

Pháp luật
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg là bao nhiêu?

Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ công dân có tài khoản VNeID mức độ 2 theo mục tiêu của Đề án “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được phê duyệt tại Quyết định 940/QĐ-TTg

Bài viết mới nhất

Pháp luật
Hợp đồng lao động theo Nghị định 235 có được hưởng phụ cấp thu hút vùng khó khăn? Thời gian không được tính hưởng chế độ phụ cấp thu hút là khi nào?

Đối tượng áp dụng chính sách chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được quy định tại Điều 2 Nghị định 76/2019/NĐ-CP.